KỶ NIỆM 65 NĂM HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ (20.7.1954 - 20.7.2019)

Giữ vững ngọn lửa đấu tranh

;
Thứ Sáu, 19/07/2019, 12:14 [GMT+7]

Từ sau năm 1954, phong trào cách mạng ở Quảng Nam - Đà Nẵng  gặp muôn vàn khó khăn trước các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” của Mỹ - Diệm. Nhưng Đảng vẫn kiên trì lãnh đạo cán bộ, đảng viên bám dân, bám cơ sở; còn dân vẫn tin yêu bảo vệ Đảng. Chưa bao giờ tình dân nghĩa Đảng keo sơn gắn bó như lúc này. Giữa phong ba, bão tố, lửa cách mạng vẫn được sưởi ấm trong lòng dân để khi có thời cơ sẽ vùng lên thiêu cháy quân thù.

Đảng bám dân - dân tin Đảng

Tháng 6.1956, Mỹ - Diệm phát động đợt 2 chiến dịch “tố cộng” trên toàn miền Nam. Mở đầu đợt 2 ở Quảng Nam - Đà Nẵng, địch tiến hành tố cộng ngay tại trung tâm nhà lao Thông Đăng (Hội An), đối tượng gồm những người được gọi là “đầu sỏ” cộng sản bị giam cầm tại đây. Chúng áp dụng những biện pháp hết sức thâm độc, ai khai báo đến đâu, chúng về tại đó để mở “tố cộng” đánh phá tận gốc phong trào cách mạng. Sau lớp “tố cộng” ở Hội An, chúng tiến hành “tố cộng” tại Điện Bàn làm thí điểm, rút kinh nghiệm mở ra Đà Nẵng, Hòa Vang, Duy Xuyên và các huyện phía nam.

Trước chính sách “tố cộng” tàn bạo của Mỹ - Diệm, nhiều đảng viên, cán bộ tỏ rõ khí tiết của người cộng sản, dù bị địch bắt tra tấn dã man nhưng thà chết chứ không đầu hàng, quyết bảo vệ thanh danh của Đảng đến hơi thở cuối cùng. Đồng chí Nguyễn Liệu (Tiên Phước) bị địch bắt, thà chết không chịu sống nhục, đồng chí tự rạch bụng chết một cách oanh liệt trước mặt kẻ thù. Đồng chí Đinh Tùng, cán bộ phụ trách xã Điện Phước (Điện Bàn) tự sát để bảo vệ thanh danh của Đảng và bảo vệ cơ sở cách mạng. Ngoài ra còn có nhiều đảng viên, cán bộ anh dũng hy sinh bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng để lại tấm gương sáng được nhân dân ca ngợi, và kẻ thù phải khiếp sợ.

Trong gian nan mới hiểu rõ được lòng dân, nhiều cơ sở đứt liên lạc với Đảng nhưng vẫn âm thầm hoạt động. Địch nham hiểm cho bọn “công dân vụ” đi lùng từng nhà để tìm cán bộ ta, theo dõi từng hũ gạo trong nhà, từng gói cơm mang theo ăn trưa để khống chế, kiểm soát, gây cho ta nhiều khó khăn. Nhưng chúng không thể nào kiểm soát được lòng dân với Đảng, do đó đồng bào, cơ sở vẫn khôn khéo bằng mọi cách tiếp tế, nuôi giấu cán bộ. Sự đóng góp của nhân dân, đặc biệt vai trò của phụ nữ là một trong những nhân tố quan trọng góp phần duy trì sự tồn tại của tổ chức đảng ở cơ sở. Tiêu biểu như Phạm Thị Cộng, thường gọi là Mẹ Cộng, quê ở thôn Châu Bái (xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn). Nhà mẹ là nơi cơ quan Tỉnh ủy đóng trong thời kỳ địch “tố cộng” ác liệt nhất, vẫn được bảo vệ an toàn, là một trong nhiều bà mẹ điển hình ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Địch bắt mẹ đi học “tố cộng”, bị tra tấn nhiều lần nhưng vẫn không khai báo cơ sở, được thả về vẫn hoạt động. Mẹ Cộng nói: “Mỹ - Diệm tố cộng nhưng Cộng này không ngán đâu”. Mẹ dùng bẹ chuối, ngọn đèn, quần áo phơi trên dây làm tín hiệu cho cán bộ. Khi Diệm thi hành luật số 10/59, Đảng muốn đưa mẹ Cộng lên căn cứ, nhưng mẹ từ chối và xin được ở lại để hoạt động phục vụ cách mạng.

Vững phong trào ở miền núi

Trong khi phong trào cách mạng ở đồng bằng đang gặp nhiều khó khăn, thì phong trào ở miền núi vẫn giữ vững và phát triển. Miền núi trở thành chỗ dựa để Đảng bộ tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương, chuyển phong trào cách mạng sang thời kỳ mới.

Tháng 3.1955, Đoàn cán bộ miền Tây họp tại làng Rô, xã Cà Dy, huyện Bến Giằng (nay là huyện Nam Giang). Tiếp đó, tháng 7.1955, Đoàn cán bộ miền Tây tổ chức hội nghị tại làng Pacăng, xã Cà Dy, hội nghị nhấn mạnh: “Phát huy các thuận lợi, kiên quyết đập tan mọi âm mưu xâm nhập tề điệp của địch, tăng cường khối đoàn kết nhân dân, giữ vững thế an toàn miền núi”. Để chủ trương của Đảng ngày càng thâm nhập sâu trong các dân tộc ở miền tây, cán bộ Kinh thực hiện chủ trương quần chúng hóa “3 cùng”. Cán bộ đóng khố, xâu tai, búi tóc, choàng mền, vác dụ (giáo), mang gùi để che mắt địch. Phong trào trên đã làm cho đảng viên, cán bộ thật sự hòa mình với nhân dân, các dân tộc vùng Tây hiểu và tin cán bộ hơn, ảnh hưởng của Đảng ngày càng bám sâu trong đồng bào.

Tháng 7.1956, sau khi đặt được bộ máy chính quyền ở một số thôn vùng thấp, bọn địch tiến lên vùng trung và vùng cao. Diệm lập ra “Nha công tác miền Thượng”, tổ chức nhiều đoàn “Bình định”, “Quân chính”, “Công dân vụ”, dưới danh nghĩa hoạt động “xã hội”, “dân vận”, “thân thiện” tỏa lên vùng trung, vùng cao truy tìm cán bộ nằm vùng, đẩy cán bộ ra khỏi dân, lập chính quyền, dồn dân, ngăn chặn sự giao lưu miền núi với đồng bằng. Địch đóng thêm các đồn Pốtxít (Bến Giằng), Caxăh, Alâu, Atép (Bến Hiên) và nhiều đồn dã chiến ở Trà My, Phước Sơn. Địch mở nhiều cuộc hành quân vào các vùng, bắt dân làng Padương (Bến Yên) dời xuống Thạnh Mỹ, dồn dân ở Phú Túc (Trung Mang) ra bìa rừng, cưỡng bức nhân dân các xã Pui, Nú (Trà My) sống tập trung.

Để giữ thế “an toàn” miền núi, các cấp ủy đảng đã tổ chức đội tự vệ ở thôn bản. Lực lượng này được trang bị vũ khí thô sơ như: cung, nỏ giáo, mác; tổ chức đi tuần tra, cắm chông gài bẫy ở các nơi địch thường qua lại, ngăn chặn và hạn chế sự hoạt động của chúng vào các thôn bản, bảo vệ nơi ăn ở của cán bộ. Đi đôi với phong trào trên, các dân tộc vùng Tây đã nổi dậy chống âm mưu dồn dân của địch. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh phá khu dồn Thạnh Mỹ của đồng bào Padương (Bến Giằng). Ban Cán sự vùng Tây và Huyện ủy Bến Giằng quyết định thành lập đội vũ trang hoạt động dưới hình thức “giặc mùa” hỗ trợ cho việc phá khu dồn. Nhân dân trong khu dồn đã bí mật lên khe Hara xây dựng làng bí mật. Tháng 2.1958, được đội vũ trang hỗ trợ, nhân dân nổi dậy phá khu dồn trở về làng cũ làm ăn. Thắng lợi của đồng bào Padương có ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần đấu tranh của nhân dân. Nhiều nơi, nhân dân nổi dậy phá khu dồn bung về làng cũ làm ăn. Âm mưu dồn dân của Mỹ - Diệm ở vùng Tây bị thất bại.

Đánh giá vai trò phong trào cách mạng miền núi, đồng chí Trần Thận, Bí thư Ban cán sự khu Trung của tỉnh khẳng định: “Thắng lợi của các cuộc đấu tranh chống địch giữ vững thế làm chủ núi rừng và thành công trong công tác xây dựng miền núi trong hơn 5 năm (1954 - 1959) đã biến miền núi thành căn cứ địa, chỗ dựa của tỉnh, góp phần cùng với nông thôn, đồng bằng và thành phố đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai. Thành tích và công lao của đồng bào các dân tộc miền núi rất to lớn, được Đảng bộ ta khái quát trong 6 chữ: Trăm ơn, nghìn nghĩa, vạn tình”.

Có thể nói, trong khi phong trào cách mạng ở đồng bằng đang gặp nhiều khó khăn, thì phong trào ở miền núi vẫn giữ vững và phát triển. Miền núi trở thành chỗ dựa để Đảng bộ tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương, chuyển phong trào cách mạng sang thời kỳ mới.

LÊ NĂNG ĐÔNG

.
.
.
.
.