Tháng Bảy - thông điệp vô ngôn

;
Thứ Năm, 25/07/2019, 10:05 [GMT+7]

1. Tôi không bao giờ quên hình ảnh mẹ tôi ngày nhận giấy báo tử của chú Út. Lúc ấy miền Nam vừa mới giải phóng độ một năm. Ngồi bệt xuống mái hiên căn nhà tranh xập xệ, mẹ tôi ôm mặt khóc, giọng nghẹn lại, đứt quãng: “Nhà họ đi còn có người về, nhà mình răng chẳng có ai về?!”. Hồi Mỹ đổ quân, ông nội tôi đã dắt cả hai đứa con trai đi kháng chiến và cả ba mãi mãi không ai còn trở lại mái nhà xưa. Chẳng biết nếu còn sống thì bà nội tôi sẽ như thế nào khi cầm mảnh giấy báo tử này. Bà tôi chết vì vướng phải mìn khi đi đốn củi, chưa kịp nhìn thấy một ngày im tiếng súng. Tháng Bảy trong tôi, vì thế luôn hòa quyện, trào dâng những niềm riêng - chung.

Hiếm có dân tộc nào mà ngay từ thời lập quốc đã phải đương đầu với chiến tranh triền miên và khốc liệt như dân tộc Việt. Riêng các cuộc chiến trong thế kỷ XX thật dai dẳng và tàn khốc quá mức chịu đựng của con người. Đi bất cứ nơi đâu trên dải đất này đều bắt gặp nghĩa trang liệt sĩ. Dưới những nấm đất lặng im ấy là bao cuộc đời oanh liệt, bi tráng. Và phía sau những ngôi mộ ấy là bao người mẹ, người chị “nuốt lệ khi chồng con không về”. Nhớ lần về Tam Phước, Phú Ninh tôi gặp Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống đơn lặng trong ngôi nhà nhỏ ở một xóm thưa thớt dân cư. Mẹ móm mém kể về đứa con trai độc nhất của mình như thể anh ấy vẫn còn đang tuổi hai mươi; mẹ còn nhớ rõ món ăn mà anh ấy thích, những câu nói cuối cùng trước khi anh mãi mãi ra đi. Buổi sáng ấy hầm bí mật trong vườn mẹ bị điệp báo chỉ điểm, bọn địch xăm nát bờ bãi, mẹ đứng nhìn lòng như lửa đốt. Quyết không để rơi vào tay giặc, anh đã tự sát và đích thân mẹ đã xuống hầm đưa thi thể con trai lên. Mẹ kể chính tay mẹ tắm rửa sạch sẽ thân thể đứa con trai bị kiến bu và ám đầy khói thuốc lựu đạn để đưa đi an táng. Tôi nhìn mẹ thầm kinh ngạc bởi không hiểu mẹ lấy đâu ra sức mạnh để vượt qua từng ấy đau thương. Lan man chuyện xưa, chuyện nay rồi bất chợt mẹ bảo bây giờ còn khỏe, mẹ vẫn sống nơi đây với bà con chòm xóm cho vui, nhưng khi thấy sức yếu mẹ sẽ đề nghị vào sống tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công ở Hội An. Mẹ sắp xếp quãng ngày cuối đời của mình nhẹ như hơi sương nhưng sao tôi nghe lòng trĩu nặng.

Người của hôm nay hãy dành thời gian xem lại, đọc lại, thăm viếng…, hãy lắng lòng để thêm một lần thấu hiểu cuộc sống thanh bình này được đắp xây bằng bao máu xương của thế hệ cha ông.

Ai hiểu hết nỗi cô đơn của mẹ trong những đêm dài quạnh vắng?

Ai đo hết sự hy sinh thầm lặng của mẹ, cho đến tận phút chung cuộc một phận người?!

2. Lần khác về Bình Giang, Thăng Bình tôi thấy một khóm thờ trong khu vườn vắng, hỏi ra mới biết đó là khóm thờ do bà con trong tộc dựng để hương khói cho các liệt sĩ bởi gia đình ấy không còn ai. Vậy đấy, có rất nhiều cuộc đời bình dị đã hóa thân vào đất đai để quê hương đất nước mãi trường tồn.

Tôi vừa đi viếng hương một nhân vật chính trong bộ phim tài liệu nói về cuộc chiến tranh nhân dân kỳ lạ ở vùng tây Duy Xuyên. Ông tên Văn Công Mịch, nguyên là Trưởng ban tiền phương xã Xuyên Phú (bao gồm xã Duy Phú, Duy Tân bây giờ). Trong chiến tranh không biết bao lần ông đã thoát khỏi bàn tay tử thần, nhưng lần này bạo bệnh đã đuổi kịp ông. Những năm kháng chiến chống Mỹ, ông Mịch cùng hàng chục hộ dân trụ bám thôn Vinh Cường xã Duy Tân năm này qua tháng nọ chèo thuyền đưa thương binh qua sông Thu Bồn để lên bệnh xá tỉnh đội Quảng Đà trên cứ. Quãng sông qua làng Giảng Hòa xã Đại Thắng trở thành đoạn sông sinh tử với người Vinh Cường, bởi hàng đêm ở đây địch luôn vãi pháo bầy; lính ở đồn Giao Thủy bắn ĐKZ lên, ca nô cao tốc, trực thăng vũ trang tuần tra pha đèn sáng rực; rồi biệt kích, cây nhiệt đới thu tiếng động gọi pháo bắn… Không ít lần máu người dân Vinh Cường cùng máu thương binh loang đỏ mặt sông. Nhưng họ vẫn kiên cường bám trụ chuyển gạo, tải đạn, khiêng thương… Người dân ở đây cũng đã tự tay chôn cất không biết bao nhiêu liệt sĩ trong đó có nhà văn - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Chu Cẩm Phong.

Vinh Cường hồi ấy có một lão nông chuyên lo khâm liệm các tử sĩ. Nhà ông chỉ có hai người con gái, họ đã lấy chồng xa, không ai đi cách mạng, nhưng ông vẫn trụ lại với dân làng.  Cuộc sống thời chiến đầy hiểm họa và thiếu thốn nhưng lão luôn lo việc hậu sự với sự chu tất nhất có thể, bất luận nhiều thi thể lâu ngày bị phân hủy nặng, ông bảo “phải để anh em được an nghỉ thẳng thớm”.

3. Trong một lần tập huấn về phim tài liệu, Trần Văn Thủy, đạo diễn nổi danh của xưởng phim Tài liệu khoa học Trung ương bảo với chúng tôi rằng, trong kho lưu trữ phim tài liệu của ta thật khó tìm thấy những cảnh chết chóc, mất mát, khốc liệt của chiến tranh do phóng viên ta quay. Chủ yếu là những cảnh hùng tráng, cảnh quân ta hành quân cuồn cuộn, cảnh tiến công dũng mãnh nên bây giờ muốn phản ánh cái khốc liệt, gian khổ phải đi mua tư liệu điện ảnh của các nước phương Tây. Nhưng thời ấy phải làm vậy, chẳng thể khác được. Phải nuốt nước mắt vào lòng, phải dẹp sang một bên, phải nén xuống những đau thương, bi lụy mới đủ sức động viên nhau vững lòng chiến đấu. Bây giờ đã đủ độ lùi của thời gian, bối cảnh đất nước đã khác, một số tư liệu của ta mới được công bố. Thật khó có thể cầm lòng khi nhìn những cảnh tượng thi thể chiến sĩ nằm ngổn ngang, sấp ngửa đủ mọi tư thế trên cửa mở xung phong vào đồn giặc.

“Chiến trường ai khóc chia phôi. Khải hoàn ai nhắc tới người hôm qua”. Giữa những ngày kháng chiến chống Pháp nóng bỏng, nhà thơ tài hoa bạc mệnh của đất Duy Xuyên - Hồ Thấu đã viết vậy khi nằm bệnh trong một ngôi miếu hoang ở làng biển Tam Thăng, Tam Kỳ. Ông viết cho chính ông. Mà cũng là viết cho thói thường ở đời. Nhưng chẳng lẽ kim cổ cũng tần tật vậy sao? Người của hôm nay hãy dành thời gian xem lại, đọc lại, thăm viếng…, hãy lắng lòng để thêm một lần thấu hiểu cuộc sống thanh bình này được đắp xây bằng bao máu xương của thế hệ cha ông.      

Tháng Bảy, tôi lại về nghĩa trang liệt sĩ ở quê, lần theo từng dãy mộ chí có tên và không tên. Ông nội tôi và ba tôi nằm cạnh nhau, như bù lại thời còn sống hai cha con hầu như xa biệt. Còn chú Út thì mẹ tôi đề nghị xã đắp cho ngôi mộ gió. Cho đến khi hy sinh, chú vẫn chàng trai 20 tuổi, hài cốt nằm lại đâu đó trên vùng đất Kỳ Quế xưa, nay thuộc xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh. Quây quần nơi nghĩa trang này bao người dân quê tôi, trong đó có nhiều người tôi còn mường tượng được gương mặt họ ngày lên đường ra trận, và còn có rất nhiều con em của xứ Quảng, của các tỉnh miền Bắc. Những cuộc đời ấy đã yên nghỉ nhưng những thông điệp vô ngôn mà họ truyền lại vẫn vang vọng thiết tha.

DUY HIỂN

.
.
.
.
.