Cuộc giải cứu bất thành

;
Thứ Bảy, 19/10/2019, 09:19 [GMT+7]

Đêm 25 tháng Tám năm Đinh Hợi (1887), khi chiếc cũi giải lãnh tụ Nghĩa hội Quảng Nam dừng lại ở bến đò Hà Thân chờ sáng hôm sau qua đò sông Hàn để vượt Hải Vân ra Huế thì xảy ra một biến cố lớn với âm mưu giết Nguyễn Thân nhằm giải cứu cho Nguyễn Duy Hiệu. Cuộc giải cứu bất thành nhưng đó là lời cảnh cáo nghiêm khắc cho những kẻ bán nước!

Tiền hiền làng An Hải. Ảnh: LÊ THÍ
Tiền hiền làng An Hải. Ảnh: LÊ THÍ

Chuyến theo sông trở về

Cuối tháng 8.1887 quân Nguyễn Thân đột kích vào căn cứ Gò May, 8 chức sắc của Nghĩa hội bị bắt, gần 1.000 tài liệu, nhiều ấn triện, vũ khí bị tịch thu, cả gia đình trong đó có cả mẹ già của Nguyễn Duy Hiệu cũng bị bắt. Lãnh tụ Nguyễn Duy Hiệu cùng Phan Bá Phiến chạy về một ngôi làng ở cuối sông Trường Giang định ra đảo Lý Sơn ẩn nấp một thời gian chờ thời cơ mới. Nhưng khi biết ở Lý Sơn có nhiều người dân theo đạo Thiên Chúa giáo nên ý định không thành. Cùng đường Nguyễn Duy Hiệu đã bàn với Phan Bá Phiến: “Nghĩa hội 3 tỉnh ông với tôi là người chủ trương. Việc đã không thành thì chỉ có chết mà thôi. Nhưng hai ta cùng chết một lúc là vô ích. Ông hãy chết trước. Phần tôi, tôi sẽ giải tán Nghĩa hội rồi đem thân cho giặc bắt. Người Pháp tra hỏi, tôi sẽ cực lực giải thoát cho hội. Một mình tôi chết không đáng tiếc. Hội ta còn, một ngày nào đó có người làm được chí ta, ấy là ta sống vậy!” (Nguyễn Sinh Duy, Phong trào Nghĩa hội Quảng Nam, Nxb Đà Nẵng, 1990, tr.259). Tối 21.9, trước mặt các thành viên Nghĩa hội còn lại, Phan Bá Phiến đốt tất cả hồ sơ bí mật của hội rồi uống thuốc độc tự tử, mang toàn bộ bí mật của Nghĩa hội theo về cõi chết cho các đồng nhân được yên tâm dấu mình một thời gian, chờ một thời cơ mới. Phan Bá Phiến đã “tuân lệnh lãnh tụ” và giữ trọn khí tiết. Sự kiện này được Phan Bội Châu thuật lại: “Phiến khẳng khái nhận lời, bèn mang đai đội mão, quay về nơi vọng vua lạy năm lạy rồi hướng về phía Hiệu kính cẩn lạy và nói: “Ông gắng sức, tôi xin đi”. Phiến liền dốc túi thuốc độc, uống xong nhắm mắt. Ý chừng khi khởi nghĩa, Phiến đã lập tâm trữ sẵn thuốc độc trong túi áo, quyết làm cho đến chết mới thôi” (Việt Nam vong quốc sử, dẫn lại của Nguyễn Sinh Duy, tr.260).

Chứng kiến xong cái chết của người đồng sự tâm phúc, hôm sau, Nguyễn Duy Hiệu xuống thuyền theo sông Trường Giang về lại cố hương Thanh Hà. Bước lên Bến Trễ, sau 3 năm xa cách lòng bồi hồi xúc động. Sau khi viếng bàn thờ mẹ, Nguyễn Duy Hiệu trải giấy điều, nước mắt lã chã viết câu đối thờ mẹ: “Là bầy tôi mà vua nạn không phò, vua chạy không theo, khó đem nỗi bất bình mà kêu cùng tạo hóa; Làm con trai mà mẹ đau không dưỡng, mẹ mất không chôn, chỉ biết lấy trường hận mà khóc công sinh thành”. Tế mẹ xong ông vội vã cải trang ra viếng mộ thầy cũ là Cử nhân Lê Tấn Toán ở làng Hà Lộc gần đó; người thầy học thuở thiếu thời đã vì “việc nghĩa” của học trò mà phải nhận chén thuốc độc do “vua ban”. Xong đạo với mẹ và thầy, Nguyễn Duy Hiệu khăn áo chỉnh tề ra một ngôi miếu ở giữa bãi cát Thanh Hà cho người đi báo với Nguyễn Thân và chờ quân giặc đến bắt.

Cuộc giải cứu bất thành

Bắt được Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Thân cho phu trạm cấp báo về Huế. Nguyễn Duy Hiệu cùng người con trai được nhốt vào một chiếc cũi dài 3 thước, rộng 2 thước và nhanh chóng giải về Huế. Lộ trình áp giải được chọn là Thanh Hà qua Quán Khái, Mân Quang, Hóa Khuê đến Ngũ Hành Sơn để ra Đà Nẵng sau khi vượt sông Hàn, rồi theo đường thiên lý qua đèo Hải Vân ra Huế.

Khi chiếc cũi giải cha con Nguyễn Duy Hiệu đi đến bến đò Hà Thân (nay thuộc phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, Đà Nẵng) thì trời đã tối nên Nguyễn Thân cho dừng lại ở đây chờ sáng hôm sau sẽ đi đò qua sông Hàn. Chiếc cũi được đặt dưới tàn cây cổ thụ, canh gác nghiêm mật, còn Nguyễn Thân và bọn tuỳ tướng thì vào ngủ trong đình làng An Hải. Nửa khuya một thân binh của Thân đã cầm gươm đột nhập vào cửa hông đình với ý định giết Thân nhằm giải cứu cho cha con Nguyễn Duy Hiệu. Lúc cánh cửa bị đẩy qua một bên thì viên lãnh binh của Thân phát hiện, từ bên trong đưa gươm ra chém. Người thân binh bị thương ở vai nên phải bỏ trốn. Quân Nguyễn Thân đốt đuốc soi tìm và người thân binh đó bị bắt tại một rừng mù u rậm rạp bên khe Lò Rèn (nay thuộc phường An Hải Tây). Bị tra hỏi, người thân binh đó khai tên là Phan Văn Đạo, quê gốc ở Quảng Nam; tuy là thân binh của Nguyễn Thân nhưng lòng luôn hướng về các phong trào yêu nước. Thấy vẻ ung dung khí khái của lãnh tụ Nguyễn Duy Hiệu, Phan Văn Đạo đem lòng cảm phục nên nảy ra ý định giết Thân để giải cứu cho Nguyễn Duy Hiệu. Biết mình thế nào cũng bị chết dưới tay Nguyễn Thân - một người vô cùng hiếu sát, nên Phan Văn Đạo không tiếc lời chửi mắng hành động bán nước và khuyên Nguyễn Thân nên thả Nguyễn Duy Hiệu để lấy công chuộc tội. Lập tức Nguyễn Thân ra lệnh đem Phan Văn Đạo ra chém tại bến đò Hà Thân và bêu đầu để răn đe dân chúng. Hôm đó là ngày 26.9.1887 nhằm ngày 10 tháng 8 năm Đinh Hợi.

Còn Nguyễn Duy Hiệu và con được giải nhanh ra Huế. Trước Cơ mật viện ông nhận hết trách nhiệm về mình để tránh cho các đồng nhân bị sát hại, như lời hứa của ông với Phan Bá Phiến: “Nghĩa hội Quảng Nam ở ba tỉnh không dưới vài trăm, đều là người có tên tuổi, nhưng chống lại triều đình chỉ có mình Hiệu mà thôi. Kỳ dư đều bị ép theo. Họ sợ bị thiêu hủy nhà cửa, không dám không theo, ngoài ra không có bụng gì khác. Vậy chém một mình Hiệu này là đủ, chớ nhọc lòng hỏi tội những kẻ khác làm gì” (Phan Bội Châu, Việt Nam vong quốc sử). Mấy ngày sau, đúng Rằm tháng Tám (1.10.1887) ông ung dung ra bãi chém An Hòa  đền nợ nước với một “nụ cười trên môi”!

Từ sau cái chết của Phan Văn Đạo, ở tiền hiền làng An Hải mỗi năm đến kỳ tế âm linh và tế kỳ yên của làng vào mùng 10 tháng 8 âm lịch, các cụ bô lão đều thiết hương án trước tiền đình để lấy cớ là thờ các nhân thần nhưng thâm ý thực sự là để cúng Phan Văn Đạo cùng những người đã hy sinh cho Nghĩa hội trên bến đò Hà Thân quê họ, mà dân chúng của làng xem là những “nhơn thần nghĩa sĩ”. Lệ đó vẫn còn duy trì cho đến ngày nay.

LÊ THÍ

.
.
.
.
.