Chậm trồng rừng thay thế

;
Thứ Ba, 02/08/2016, 12:34 [GMT+7]

Các nhà máy thủy điện, khai thác khoáng sản ở miền núi làm mất hàng nghìn héc ta rừng tự nhiên do chuyển đổi mục đích sử dụng. Thế nhưng, việc trồng lại rừng thay thế tiếp tục bị chậm tiến độ, trong khi các giải pháp tháo gỡ khó khăn vẫn chưa đem lại hiệu quả.

Các huyện miền núi vẫn chậm trồng rừng thay thế (ảnh mang tính minh họa).Ảnh: TRẦN HỮU
Các huyện miền núi vẫn chậm trồng rừng thay thế (ảnh mang tính minh họa).Ảnh: TRẦN HỮU

Trồng rừng chiếu lệ

Ở nhiều huyện miền núi, sau khi UBND tỉnh nêu đích danh chủ đầu tư các nhà máy thủy điện, khai khoáng chậm trồng rừng thay thế (TRTT), thì từ đầu năm đến nay doanh nghiệp có triển khai nhưng tiến độ ì ạch, không đáp ứng kế hoạch. Tại  mỏ vàng Bồng Miêu (xã Tam Lãnh, Phú Ninh), theo quan sát của chúng tôi, việc trồng cây sao đen hoàn rừng rất thưa thớt, trồng cho chiếu lệ. Hàng trăm héc ta đất đã lấy quặng xong rồi bỏ hoang nhiều năm trời chưa hoàn thổ, TRTT do doanh nghiệp chưa bàn giao về cho địa phương quản lý. Ông Nguyễn Phi Thạnh - Chủ tịch UBND huyện Phú Ninh khẳng định, công tác hoàn thổ phục hồi môi trường không được quan tâm, đến nay còn hơn 22ha doanh nghiệp chưa phục hồi môi trường, trồng lại cây và 0,77ha chưa hoàn thổ.

Theo Tổng cục Lâm nghiệp, đến nay cả nước chỉ có 23/50 địa phương có kế hoạch triển khai TRTT với diện tích 15.935ha (đạt 23% diện tích phải trồng). Sau một loạt văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện từ Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành, diện tích TRTT toàn quốc mới tăng lên 30.164ha (tương đương 44% diện tích phải trồng), tính đến tháng 7.2016.

Theo thống kê năm 2015 của Chi cục Lâm nghiệp Quảng Nam, tổng diện tích rừng chuyển mục đích sang làm các công trình phải TRTT là 1.651ha, trong đó chủ yếu là diện tích chuyển sang làm thủy điện hơn 1.408ha. Đến nay, diện tích đã phê duyệt phương án TRTT là hơn 995ha. Tổng diện tích TRTT tính đến nay mới thực hiện hơn 837ha (đạt hơn 50% tổng diện tích). Năm 2014, theo kế hoạch, diện tích TRTT trên toàn tỉnh hơn 770ha, nhưng chỉ thực hiện được 23,8ha (đạt 3,4% kế hoạch). Hầu hết nhà máy thủy điện Sông Bung 2, Sông Tranh 3, Sông Tranh, Sông Côn đều “nợ” trồng rừng. Các nhà máy thủy điện Geruco Sông Côn, Tr’Hy dù phê duyệt phương án từ năm 2010 nhưng vẫn tìm mọi cách lần lữa, viện cớ gặp khó khăn về tài chính để không triển khai thực hiện TRTT gần 100ha.

Theo lý giải của Sở NN&PTNT, thực tế ở nhiều địa phương có tình trạng trong quá trình xây dựng phương án không đề cập việc bồi thường đất và tài sản trên đất của người dân, nên khi triển khai không có nguồn kinh phí hỗ trợ người dân, ảnh hưởng đến việc thu hồi đất để TRTT. Đối với các dự án phát triển kinh tế dân sinh, trong quá trình xây dựng dự án lại không có nguồn vốn cho việc TRTT. Trong khi đó, theo ông Phạm Hồng Lượng - Vụ trưởng Vụ Kế hoạch tài chính (Tổng cục Lâm nghiệp), hiện còn tình trạng nhiều chủ dự án không chủ động trong xây dựng phương án TRTT cũng như thực hiện nộp ngân sách TRTT. Hầu hết địa phương chưa chủ động bố trí vốn để TRTT; một số dự án đã nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng của tỉnh nhưng đơn vị này còn để vốn tồn đọng, chưa chủ động tham mưu cho UBND tỉnh trong việc quản lý, điều phối tiền thu từ các chủ dự án để triển khai kế hoạch TRTT. Trong khi đó, một số dự án tiến hành chuyển mục đích sử dụng rừng đã lâu, dự án đã hoàn thành và chuyển giao cho đơn vị khác tiếp quản, thậm chí nhiều ban quản lý dự án đã giải thể, song do không dự toán kinh phí để TRTT. Thêm vào đó quỹ đất lâm nghiệp cho TRTT tại các địa phương khá thấp, đặc biệt là sau khi Bộ NN&PTNT có yêu cầu chỉ ưu tiên TRTT trên diện tích đất trống quy hoạch rừng phòng hộ hoặc rừng đặc dụng. Trong khi đó, diện tích được quy hoạch là “đất trống” thì phần lớn người dân lấn chiếm, sử dụng canh tác lâu năm, nếu thu hồi sẽ có khả năng xảy ra tranh chấp.

Gỡ vướng

Theo tìm hiểu của chúng tôi, vướng mắc không chỉ ở giai đoạn trước khi TRTT mà còn ở quản lý sau đầu tư trồng rừng. Đến nay, chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm quản lý rừng sau đầu tư, cơ chế hưởng lợi từ diện tích rừng trồng đã đến tuổi có thể khai thác... Chính quyền một số huyện miền núi đều chia sẻ bất cập, khó khăn trong xây dựng kế hoạch, hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí, thể chế và tổ chức thực hiện, cho đến nghiệm thu, giám sát…  Nhập nhằng giữa nguồn chi ngân sách và ủy thác cho TRTT. Cần quy định rõ hơn về vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng với TRTT và chế tài xử lý đối với chủ dự án cố tình chây ỳ không hoặc chậm TRTT.

Tại cuộc hội thảo “Thực thi chính sách TRTT từ thực tiễn địa phương: Một số đánh giá và khuyến nghị” do Trung tâm Con người và thiên nhiên (thuộc Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam) phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp và Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng Việt Nam tổ chức cuối tháng 7, nhiều ý kiến cho rằng Sở NN&PTNT cần khuyến nghị rà soát, đánh giá hiệu quả các phương thức tổ chức TRTT; xây dựng các hướng dẫn, quy định để thống nhất tổ chức thực hiện TRTT nhằm phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan. Bên cạnh đó, Trung tâm Con người và thiên nhiên cũng cho rằng, khái niệm TRTT không chỉ tập trung hoặc quy định bắt buộc phải trồng rừng mới, kinh phí TRTT nên được sử dụng để thuê khoán cộng đồng, hộ gia đình quản lý, bảo vệ các khu vực rừng tái sinh, trồng dặm, tăng cường phục hồi diện tích rừng tự nhiên. Hỗ trợ tích cực cho việc thực hiện các mục tiêu bảo vệ diện tích rừng hiện có, nâng cao độ che phủ rừng, cải thiện chất lượng rừng.

TRẦN HỮU

.
.
.
.
.