Tàu đánh bắt xa bờ : Xa bờ... gần nợ

;
Thứ Ba, 09/05/2006, 08:40 [GMT+7]

Những chuyến biển vui
Trong suốt 40 năm gắn bó với biển, chưa bao giờ ông Ngô Văn Nở (thường gọi ông Xách) thấy mình thất bại với nghiệp cầm lái ra khơi. Theo ông, phần lớn cư dân Cẩm An (Hội An) từ biển mà giàu lên.  Đội ĐBXB xã An Bàng (phường Cẩm An) có 28 chiếc, công suất mỗi chiếc 45 - 60 CV. Cứ mỗi con trăng (một tháng), đội ra khơi hai, ba chuyến. Mỗi năm, bám biển khoảng 10 tháng. Lúc biển vui cho cá đầy khoang, ai cũng hớn hở trở về nhà như bắt được vàng. Cũng lắm khi hẩm hiu với mùa biển động, thuyền đầy thương tích, lưới mất tăm.
Mặc dầu vậy, kiểu đánh bắt tập thể theo bạn có nạn cùng chia, ai cũng có nghề; mất thì mỗi người góp một ít giúp thuyền bạn mua nghề mới tiếp sức cho những chuyến vươn khơi. Chi phí cho mỗi chuyến đi biển mất gần 20 triệu đồng. Con trăng gần đây nhất vừa cho một vụ cá thắng lợi. Tất cả các thuyền của đội tính bình quân đều đạt 50-80 triệu đồng mỗi chuyến biển. Nhiều nhất là tàu của anh Phạm Hữu Đy, lần đầu tiên giật giải "quán quân" về lượng cá. Lao động trên mỗi tàu là 9 người hầu hết là ngư dân trong vùng. Số tiền sau thu hoạch được chia thành 13 phần, mỗi người một phần, riêng chủ tàu được 5 phần để lo chi phí tân trang tàu cho chuyến tới. Tính ra mỗi chuyến biển thuận buồm xuôi gió, lao động trên tàu có thu nhập trung bình 2-4 triệu đồng/người.
Ông Xách được ví là ông chủ tàu kỳ cựu nhất ở vùng này. Ông hân hoan kể : "Mấy anh trên thị xã tin vào tôi lắm. Nếu có khó khăn cần vay vốn, mấy ảnh chấp nhận ngay và muốn vay bao nhiêu để nâng cấp tàu cũng được. Ai chứ tôi thì không sợ thất bại rồi". Cũng như nhiều ngư dân khác, khi có chính sách hỗ trợ vốn đóng tàu công suất lớn ĐBXB, ông Xách cũng tìm nguồn vốn để đầu tư nâng cấp, tăng công suất cho tàu. Tuy nhiên, ông Xách cùng một người anh em là ông Nguyễn Ba chỉ xin vay 80 triệu đồng với thời hạn trả cả lãi lẫn vốn trong 30 tháng. Nhưng chỉ sau 16 tháng, hai anh em ông Xách đã hoàn trả vốn dứt điểm cho Nhà nước và bắt đầu tích lũy. Trong suốt mấy năm liền, ông Xách đều được bầu chọn danh hiệu nông dân sản xuất kinh doanh giỏi.
"Lính thủy bộ" trên mặt trận lao động như đội cá của ông Xách cũng có những chiến lược riêng. Sau mỗi vụ cá, đội tổ chức họp để phân tích cái được và chưa được trong cách làm ăn, như so sánh vì sao đội tàu vùng An Hải Bắc (Đà Nẵng) cũng như mình mà thu hoạch của họ lại hơn 100 triệu đồng có dư sau mỗi chuyến ra khơi. Cuộc họp có khi kéo dài đến tận sáng để đúc kết bài học kinh nghiệm cho nghề đi biển. "Ngư dân chúng tôi ăn nên làm ra cũng nhờ vào con tàu. Nếu nói về mặt cá nhân, kinh nghiệm của hơn 40 năm ra khơi cho tôi những tính toán chắc chắn về cách vay vốn làm tàu. Đồng vốn tự có và đồng vốn vay nếu không thể hoàn trả bằng nghề biển của mình thì sẽ là thất bại" - ông Xách tâm sự. Đúng là nghề biển luôn "không chừng đổi", khi tính toán "lệch tọa độ" trong cách làm ăn, ngư dân rất dễ lâm vào tình trạng nợ nần chồng chất.
Tàu to, sóng lớn, nợ nhiều!
Năm 1997, Hội An bắt đầu thực hiện chương trình ĐBXB với 4 tàu công suất lớn. Đến năm 1999, cả thị xã có 13 tàu. Sau mấy năm làm ăn không đủ trả lãi cho Nhà nước,  "cần câu cơm" là chiếc tàu đánh cá của nhiều chủ hộ lần lượt bị thu hồi, nằm dài ở bến không biết bao giờ mới trở ra khơi. Hiện nay, Hội An chỉ còn lại 8 tàu ĐBXB, bao gồm 4 chiếc câu mực, 3 chiếc lưới cản, 1 chiếc lưới vây. Xem ra chỉ có mô hình đánh bắt lưới cản đem lại hiệu quả cao hơn khi giữ được ổn định trong cả năm. 8 chủ tàu còn lại cũng đang trong hoàn cảnh bị bao vây bởi nợ vay, tiền gốc và lãi vay còn ở con số hàng tỷ đồng. Anh Lê Đình Tường, chuyên viên Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hội An, đánh giá rằng : nghề ĐBXB không hề lỗ, thậm chí đem lại hiệu quả cao; tuy nhiên, trên thực tế thì  phần đông tàu xa bờ ở Hội An lãi không nhiều, đủ trang trải cho sinh hoạt phí và phần dôi ra không đủ trả lãi nợ vay (?).
Anh Ngô Văn Trái ở thôn 6 Cẩm Thanh, là ông chủ tàu đều đặn mỗi tháng lên Phòng Nông nghiệp và Phát triển  nông thôn thị xã đóng trả nợ vay. Nhưng không biết  đến mấy chục năm sau mới trả xong số nợ vay 1,1 tỷ đồng (vay từ năm 1999). Khác với đội cá ở An Bàng của ông Xách,  anh Trái phải lo hầu hết các công cụ, phương tiện cho lao động đánh bắt trên tàu. Chi phí đó ngốn một phần lớn trong số tiền bảo dưỡng tàu sau mỗi vụ làm ăn, chưa kể những trục trặc về kỹ thuật trên tàu như mất lưới hay bể hộp số... mỗi lần đều tốn kém vài chục triệu đồng. Tính bình quân mỗi tháng, sau khi trả công cho lao động đầy đủ, anh Trái thu nhập 5 triệu đồng.  Với tất cả vốn và lãi theo quy định, mỗi chủ tàu hằng tháng phải đóng hơn 20 triệu đồng trong vòng 10 năm nhưng  anh Trái chỉ có thể đóng trả nợ vay 3 triệu đồng, số tiền chỉ hơn 1/6 theo quy định. Anh Trái còn cầm cự nhưng một số chủ tàu đã trắng tay sau khi bị thu hồi nợ vốn, trở lại với xuất phát điểm là... đi biển làm thuê cho những chủ tàu khác.  "Khi mới bắt đầu vay vốn, tôi chưa tính đến những khoản chi phí vụn vặt trong mỗi chuyến ra khơi. Ví dụ như trong điều lệ bảo hiểm, chỉ khi nào tàu chìm hẳn hoàn toàn, bỏ xác ngoài khơi mới được bảo hiểm, còn kỹ thuật vụn vặt thì chủ tàu tự lo lấy. Do đó, chi phí đội lên không còn là số lẻ trong tổng thu nhập mỗi chuyến đi", anh Trái tâm sự.
Sự tính toán lệch pha tương tự đã khiến ngư dân rơi vào hoàn cảnh khó giải quyết. Nhưng nếu không tân trang, bảo dưỡng kỹ thuật cho tàu, không thể đánh bắt cá và còn có thể xảy ra nhiều biến cố khác. Sau nửa chặng đường 10 năm vay vốn làm tàu, anh Trái chỉ trả được một phần nhỏ số nợ, mặc dù trả đều đặn hằng tháng. Nhiều chủ tàu nghe phong phanh rằng, tàu của họ sẽ được "giải quyết" trong năm nay khi thấy tình hình không khả quan đã bỏ mặc sự xuống cấp của tàu. "Họ nghĩ trước sau gì tàu cũng bị thu hồi, nên để tới đâu thì hay tới đó. Còn riêng tôi dù gì cả đời cũng chỉ biết có nghề cá, đã đi biển phải trang bị đầy đủ dụng cụ sản xuất cho tàu và cả cho tất cả lao động trên tàu. Còn nợ thì đương nhiên chúng tôi phải trả", anh Trái  có vẻ quả quyết.
Những con tàu xa bờ mà...  gần nợ không còn là lời cảnh báo suông. Giải quyết thực trạng này như thế nào cần được xem xét, nghiên cứu từ nhiều góc độ, nhiều vùng, nhiều đơn vị cho vay và người vay vốn đóng tàu.

Anh Trâm

.
.
.
.
.