Biển khơi, khát vọng và thách thức

;
Thứ Hai, 05/06/2006, 14:09 [GMT+7]

Bài toán thực tại

Cơn bão Chanchu, từ một phía khác, đã lật lên những vấn đề nan giải trong nghề biển của Việt Nam nói chung, Quảng Nam nói riêng. Sự yếu kém về hệ thống và cách thức dự báo thiên tai, phòng tránh rủi ro cho ngư dân giữa trùng khơi là điều mà nhiều ngày qua báo chí cùng các chuyên gia tập trung phân tích, luận giải. Và thực ra, đây chỉ là một  trong nhiều vấn đề cần giải quyết cho sự phát triển bền vững của nghề đánh bắt thủy sản.  Ông Võ Văn Năm, Giám đốc Sở Thủy sản cho rằng, với thực trạng hiện nay, nghề đánh bắt  hải sản, đặc biệt nghề khai thác khơi, là vô cùng khó khăn và nguy hiểm. Thực trạng ấy như thế nào?

Năng lực tàu bè quá yếu là điều đáng cảnh báo cho những ai muốn vươn ra khơi xa. Hiện toàn tỉnh có 3.500 tàu thuyền, nhưng chỉ có khoảng hơn 100 chiếc đủ công suất và các chỉ số kỹ thuật an toàn đánh bắt khơi xa (loại từ 110 CV trở lên). Không những thế, phần lớn tàu đã cũ, vỏ đóng cách đây 10 - 15 năm; trang thiết bị về thông tin liên lạc và phục vụ đánh bắt, cứu hộ đều còn ở mức sơ sài (ngoại trừ các tàu thuộc chương trình khai thác khơi).  Tàu như thế, muốn đánh bắt an toàn thì chỉ quẩn quanh trong vùng cách bờ khoảng 50 hải lý, nhưng vùng bờ ngày càng cạn kiệt nguồn lợi, ngư dân phải “liều” ra xa hơn nên độ rủi ro càng cao (có tàu 45- 66 CV vẫn vươn ra vùng khơi xa 300-400 hải lý và mất tích trong bão số 1). Như thế, trong khi Nhà nước khuyến khích khai thác khơi để bảo vệ nguồn lợi ven bờ và thực thi chủ quyền lãnh hải, thì ngư dân  còn nghèo nên không thể sắm phương tiện vươn khơi. Cái nghèo đeo cái cực, nghề biển “ hồn treo cột buồm” cũng từ đó mà ra. Động thái tích cực từ ngành thủy sản là đề đạt Chính phủ hỗ trợ đóng tàu đánh bắt xa bờ (Quảng Nam có 49 chiếc từ 140CV trở lên), tuy nhiên do vướng mắc từ việc thu hồi vốn mà chương trình có cơ chững lại.

Giám đốc Sở Thủy sản Võ Văn Năm :  Không thể chỉ căn cứ vào những rủi ro vừa qua mà định hướng khác được, không thể thay đổi mục tiêu vươn khơi. Vẫn đề số một bây giờ là làm sao để hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro trên biển.

Riêng với nghề cá Quảng Nam, chúng ta cần xem xét lại một vài định hướng sau đây : cần tính toán lại cơ cấu nghề biển; không nên chú trọng khuyến khích tăng sản lượng khai thác mà nên quan tâm đến giá trị xuất khẩu của các loại thủy hải sản khai thác được; thực thi đồng bộ các giải pháp nâng cao năng lực khai thác của ngư dân; xây dựng các tổ liên kết sản xuất nhằm tăng cường sức mạnh, sự nhạy bén để nắm bắt tốt những thông tin về ngư trường mà khai thác hiệu quả hơn; tiếp tục thực hiện chủ trương hỗ trợ để ngư dân đủ điều kiện vươn ra khơi  xa bởi nguồn thủy sản gần bờ đã đến hồi cạn kiệt...

Không chỉ vấn đề tàu bè mà năng lực của ngư dân vẫn còn hạn chế. Lâu nay, lao động nghề biển, nhất là ở lĩnh vực khai thác, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm dân gian, và được truyền thụ từ đời này đến đời khác. Pho kinh nghiệm đi biển, làm nghề của ngư dân vô cùng phong phú, có nhiều giá trị, nhưng trong phương thức đánh bắt hiện đại với các phương tiện tân tiến, hẳn nhiên sẽ không dễ dàng được ngư dân nắm bắt, sử dụng nếu không có kiến thức về khoa học kỹ thuật. Một thực tế mà ông Võ Văn Năm cũng nêu ra là việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho thuyền viên, máy trưởng,... trong những năm qua kết quả còn khiêm tốn. Mặt khác, hầu như rất hiếm, thậm chí chưa có những con em ngư dân Quảng Nam được đào tạo thành kỹ sư khai thác về tham gia  trực tiếp vào các đội tàu đánh bắt xa bờ. Và, không phải đơn thuần về kỹ thuật, đã đến lúc ngư dân còn phải học... ngoại ngữ (bài học về những ngư dân thoát nạn trong bão số 1 nhờ nghe và hiểu được tin báo từ các đài và tàu nước bạn, cũng như có thể phát đi lời kêu cứu cho họ, là một ví dụ). Bởi, ngư trường đánh bắt ngày càng mở rộng ra đến vùng ngư trường chung của nhiều nước và vùng lãnh thổ (trước mắt là Trung Quốc, Đài Loan, và vùng đảo Trường Sa ). Như thế, bài toán về nguồn nhân lực cho nghề biển, theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa rõ ràng là nan giải.

Tương lai càng phải vươn khơi

Đánh bắt xa bờ không chỉ là chủ trương, mà là yếu tố sống còn cho sự phát triển của nghề biển. Sự suy kiệt nguồn lợi ven bờ kéo dài qua bao thế kỷ mà nghề biển  quẩn quanh với các con tàu nhỏ, sản lượng thấp, giá trị kinh tế chỉ để “đắp đổi “cuộc sống. Cái nhìn ra biển, ở tầm quốc gia, hay vùng có biển nào cũng đều muốn vươn ra xa. Nghề biển Quảng Nam cũng vậy. Đó là kế sinh tồn. Đó là sinh lộ cho hàng nghìn ngư dân, và hàng trăm nghìn nhân khẩu sống dựa vào biển kéo dài qua dải cát 125 km phía đông, qua 6 huyện, thị xã và hơn 30 xã nghề cá. Ngay bây giờ, khi trên bờ còn phải khắc phục, cứu trợ cho những gia đình ngư dân bất hạnh, thì đã có nhiều tàu bè tiếp tục ra khơi đánh bắt vụ cá nam. Không có cách nào khác! Sự sống vẫn chảy, biển vẫn là điều khát vọng cho miếng cơm manh áo, cho sự đánh đổi số phận của bao ngư dân. Như thế, nghề biển vẫn còn đối mặt với những rủi ro, những cuộc đi bất định.

Ông Võ Văn Năm khẳng định rằng, nghề biển Quảng Nam không thể dễ dàng thay đổi định hướng cho tương lai là phải vươn khơi. Tuy nhiên, rõ ràng sự phát triển của ngành thủy sản, nhất là nghề khai thác cần có giải pháp bền vững, và sự an toàn của ngư dân phải được đặt lên hàng đầu. Theo đó, trước mắt, hệ thống thông tin dự báo và khâu kiểm định an toàn tàu cá phải được rà soát, khắc phục những mặt yếu kém. Trong đề xuất gửi Bộ Thủy sản, ngành thủy sản tỉnh đã nêu rõ việc cần thiết thành lập trạm thông tin dự báo được trang bị phương tiện hiện đại để góp phần hạn chế rủi ro cho ngư dân. Việc sắp xếp tàu thuyền và hành trình cải hoán, nâng cấp phương tiện đánh bắt theo hướng ưu tiên cho những nghề khai thác khơi cần được thực thi. Vấn đề này liên quan đến quy hoạch cơ cấu nghề và sự gia tăng năng lực dự báo thông tin về ngư trường (lâu nay, hầu như việc dự báo ngư trường như trữ lượng và sự di chuyển các luồng cá, mực... bị thả nổi nên ngư dân tự mày mò đi tìm với kinh nghiệm riêng, ảnh hưởng đến chi phí và kế hoạch đánh bắt). Ngành thủy sản cũng đã đề nghị Chính phủ và chính quyền  địa phương tiếp tục đầu tư mạnh hơn cho chương trình khai thác khơi thông qua việc tạo điều kiện nguồn vốn ưu đãi để đóng mới tàu công suất lớn, trang bị hiện đại, và đặc biệt là hướng đến chỉ đạo sản xuất trên biển chuyên nghiệp hơn. Bà con ngư dân thường có phương thức “đi bạn” và tự phát kết hợp tổ đánh bắt, nhưng số lượng tổ đội còn rất ít.  Đã đến lúc cần phải thấy rằng, việc liên kết theo hình thức tổ đội đánh bắt, hướng đến những tổ hợp, tập đoàn đánh bắt khơi là yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế thủy sản. Chỉ có những đội tàu đủ mạnh về năng lực, an toàn, có phương tiện tầm ngư, có thông tin kịp thời về ngư trường và thời tiết, có kế hoạch và phương thức đánh bắt hợp lý, khoa học; kết hợp được khai thác và chế biến trên một chuyến biển dài ngày... mới có thể làm chủ ngư trường, lãnh hải, mới có thể tạo bước đột phá về sản lượng và giá trị khai thác thủy sản.

Để vươn ra khơi xa, thì còn phải giải quyết chuyện ... trên bờ. “Hoa tiêu” cho chương trình khai thác khơi, theo ông Năm, là phải có tổ chức chỉ đạo sản xuất trên biển, không thể để ngư dân lơi bơi  giữa muôn trùng sóng cả đến lúc “ngã tay chèo” mới ra tay cứu vớt.

Điện Nam - Thanh Minh

.
.
.
.
.