Tạo động lực cho nền kinh tế

;
Thứ Hai, 11/06/2018, 13:38 [GMT+7]

Tháo gỡ khó khăn vướng mắc, tập trung nguồn lực phát triển ngành công nghiệp (CN) - tiểu thủ công nghiệp (TTCN) - thương mại (TM) - dịch vụ (DV) trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là mục tiêu trọng tâm của huyện Đại Lộc trong những năm tới.

Công ty CP Prime Đại Lộc giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 800 lao động địa phương. Ảnh: H.L
Công ty CP Prime Đại Lộc giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 800 lao động địa phương. Ảnh: H.L

Tăng trưởng ổn định

Đại Lộc xác định phát triển ngành CN - TTCN - DV là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện trong chiến lược phát triển kinh tế. Năm 2017, ngành kinh tế Đại Lộc trên đà tăng trưởng ổn định, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng.

Ông Trần Văn Mai - Chủ tịch UBND huyện chia sẻ, năm 2017, giá trị sản xuất của các ngành CN đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Một số doanh nghiệp trong các cụm CN sản xuất ổn định như Công ty CP Prime Đại Lộc, Công ty TNHH Đại Hòa, Công ty TNHH Groz-Beckert Việt Nam... Số lượng các cơ sở sản xuất cá thể hoạt động trong lĩnh vực CN-TTCN đều tăng, góp phần đáng kể vào việc tăng trưởng sản xuất ngành CN-TTCN trên địa bàn. Trong năm, huyện đã thu hút được 4 dự án đầu tư trong cụm CN và 4 dự án đầu tư ngoài cụm CN; phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu cho 55 dự án với tổng kinh phí hơn 66 tỷ đồng. Huyện cũng đã thực hiện giải phóng mặt bằng và bàn giao 12 công trình cho chủ đầu tư. Ông Mai cho biết thêm, huyện cũng chú trọng phát triển CN phân tán và các ngành nghề nông thôn như gia công may mặc xuất khẩu, chế biến nông lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất đồ gỗ.

Toàn huyện Đại Lộc hiện có gần 1.970 cơ sở sản xuất TTCN, trong đó nhiều cơ sở hoạt động khá tốt, đa dạng về mặt hàng, chủng loại. Bên cạnh tiếp tục duy trì và phát triển các làng nghề đã có, huyện tiếp tục phục hồi một số làng nghề truyền thống như làm nón, làm chổi, nhân cấy một số ngành nghề mới như mây tre, đan lưới, thủ công mỹ nghệ, chằm nón, làm hương, làm trống, điêu khắc đá mỹ nghệ, cơ sở sản xuất đặc sản bánh tráng… nhằm tạo việc làm cho lao động nông thôn. Hoạt động TM-DV trên địa bàn huyện tiếp tục phát triển cả về quy mô và hiệu quả sản xuất kinh doanh, giữ mức tăng trưởng ổn định, giá trị sản xuất ước đạt 2.370,45 tỷ đồng năm 2017. Nhiều dự án thuộc lĩnh vực TM-DV đang từng bước hình thành, có thể kể đến dự án Khu đô thị ven sông Vu Gia của Công ty Thái Dương; dự án Bãi tập ô tô, mô tô của Công ty TNHH Nguyên Bảo Bối tại Đại Hiệp; dự án khảo sát, nghiên cứu khu dịch vụ tổng hợp tại ao cá khu 7 thị trấn Ái Nghĩa…

Đồng bộ các giải pháp

Năm 2018, mục tiêu của Đại Lộc là duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 12%. Trong đó, giá trị sản xuất CN-TTCN-XD tăng 13%, CN-TTCN (phần huyện quản lý) tăng 14,5%, TM-DV tăng 14% so với năm 2017. Để có được kết quả đó, theo ông Trần Văn Mai, huyện cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trọng tâm. Thứ nhất, tích cực làm tốt công tác quảng bá, thu hút đầu tư, tổ chức tốt các hoạt động xúc tiến đầu tư, trực tiếp làm việc với nhà đầu tư tìm hiểu cơ hội đầu tư trên địa bàn. Huyện đang hoàn thiện sổ tay xúc tiến đầu tư và tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận kịp thời những thông tin dự án trên địa bàn. Thứ hai, đẩy mạnh nền cải cách hành chính, đẩy mạnh cải cách hành chính từ xã tới huyện, tỉnh, tạo điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư tiếp cận, tìm hiểu đầu tư, thực hiện dự án. Tìm hiểu khó khăn, vướng mắc của chủ đầu tư để có hướng hỗ trợ, tháo gỡ kịp thời.

Cũng theo ông Mai, huyện cũng tích cực triển khai có hiệu quả các cơ chế, chính sách về hỗ trợ phát triển CN-TTCN. Cụ thể, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 35 của Chính phủ về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, tập trung tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, đẩy mạnh sản xuất để hoàn thành chỉ tiêu giá trị sản xuất CN-TTCN năm 2018. Tiếp tục tham mưu, đề nghị UBND tỉnh thu hồi các dự án đã được cấp phép quá thời hạn mà không triển khai thực hiện hoặc triển khai thực hiện nhưng không đáp ứng được yêu cầu của dự án nhằm đưa vào quản lý để kêu gọi các nhà đầu tư có đủ năng lực thực hiện. Huyện thường xuyên tổ chức đối thoại, gặp mặt doanh nghiệp nhằm thảo luận, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, trao đổi về định hướng phát triển kinh tế và giới thiệu các dự án phát triển trên địa bàn. Huyện cũng chỉ đạo làm tốt công tác khuyến công năm 2018, hỗ trợ đào tạo nghề, xây dựng thương hiệu địa phương cho sản phẩm thủ công, truyền thống.

Tháo gỡ khó khăn

Năm 2017, giá trị sản xuất ngành CN - TTCN - xây dựng chiếm 61,22%; TM-DV chiếm 25,35% trong tổng cơ cấu ngành kinh tế với tổng giá trị ước đạt 5.191,22  tỷ đồng, tăng 14,89% so với năm 2016. Giá trị sản xuất CN-TTCN (huyện quản lý) ước đạt hơn 3.900 tỷ đồng, tăng 15,43% so với năm 2016. Cuối năm 2017, số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể hoạt động trong lĩnh vực TM-DV của Đại Lộc là 5.972 cơ sở.

Ông Đoàn Ngọc Quang - Phó Chủ tịch UBND huyện Đại Lộc cho biết, toàn huyện có 13 cụm công nghiệp (CCN) với tổng diện tích 500ha. Việc thu hút đầu tư vào các CCN hiện còn nhiều khó khăn, nhất là mặt bằng sạch. Phần lớn diện tích quy hoạch phát triển CN tập trung dọc quốc lộ 14B, mặt bằng sạch, thông thoáng, hầu hết đã cấp phép đầu tư;  còn lại là đồi núi, mặt bằng nhỏ lẻ, chênh vênh, việc san lấp mặt bằng tốn kém thời gian và tiền của. Nhiều nhà đầu tư đến tìm hiểu và rút lui do thiếu mặt bằng sạch. Huyện lại gặp khó khăn về nguồn lực giải tỏa, tạo mặt bằng sạch thu hút dự án. Một số khu vực để phát triển CN là CCN Đại Tân, Đại Chánh, Đại Phong với diện tích chừng 200ha; một số CCN như Đông Phú, Tích Phú tại Đại Hiệp tiếp tục được quy hoạch hoàn chỉnh. Cũng theo ông Quang, không chỉ thiếu mặt bằng sạch, khó khăn trong xây dựng khu xử lý nước thải tập trung và nước sạch cũng là tồn tại ở các CCN. Hầu hết hệ thống nước thải trên địa bàn đều do doanh nghiệp tự đầu tư, chủ yếu xử lý nước thải bề mặt, doanh nghiệp tự xử lý rồi đưa thẳng ra môi trường. “Cần thiết xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, đấu nối hệ thống xử lý của các doanh nghiệp trong CCN xử lý trước khi cho ra môi trường. Ngay cả vấn đề cấp nước sạch cho các CCN, cần có chính sách hỗ trợ từ tỉnh, trung ương chứ địa phương không kham nổi” - ông Quang nói.

Năm 2018 là năm thứ 3 thực hiện kế hoạch 5 năm (2015 - 2020), mục tiêu của huyện là phấn đấu nâng mức tăng trưởng CN do huyện quản lý đạt hơn 4.000 tỷ đồng. Huyện xác định CN là nền tảng, là kinh tế mũi nhọn, là động lực của sự phát triển, vậy nên để đạt được mục tiêu đề ra, cần phải tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện cho DN đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. Huyện cũng tích cực theo dõi, giám sát, đôn đốc các dự án đã có chủ trương đầu tư nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện, thi công nhà xưởng đưa vào sản xuất. Quan điểm của huyện trong phát triển CN là thu hút các nhà máy ưu tiên lựa chọn những dự án không gây ô nhiễm môi trường, hoặc ít ô nhiễm môi trường để thu hút đầu tư. Không vì thu hút đầu tư mà làm ô nhiễm môi trường. Đối với những DN hoạt động trong lĩnh vực mỏ khoáng sản, chủ yếu duy trì hoạt động với các mỏ được cấp phép trước đây, không có tình trạng cấp mới. Huyện cũng đề nghị tỉnh cấp một số mỏ cần thiết phục vụ xây dựng tỉnh, không cấp tràn lan, chỉ ưu tiên cho những doanh nghiệp làm ăn đường hoàng, theo đúng các quy định của pháp luật.

BÍCH LIÊN

.
.
.
.
.