Từ gã bán than đến "vua bánh tráng" xuất khẩu

;
Thứ Sáu, 30/06/2006, 14:23 [GMT+7]

Và người chủ doanh nghiệp đó chính là Nguyễn Nho Cương - một người con của quê hương Quảng Nam, sinh năm 1945 tại Điện Bàn. Ngoài cương vị Giám đốc DNTN TM-SX LT-TP-XK Phong Phú, anh còn là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Doanh nghiệp Tp. HCM, Ủy viên Thường trực Hội Liên hiệp Tp. HCM, một trong nhiều gương mặt doanh nhân quen thuộc trên HTV9.

Khó không lùi, bại không nản

Con đường khởi nghiệp, lập nghiệp của Nguyễn Nho Cương lúc đầu chẳng hề suôn sẻ.  Ban đầu, anh lấy than từ Bình Dương về bỏ mối ở Tp. HCM bằng xe đạp thồ. Nắng gió và muôi than đã nhuộm gã trung niên áo vải, trói gà không chặt thành “cục than hầm” biết đi. 3 năm trật móng giò chạy gạo hơn 60km/ngày, nếu tính cấp số nhân sẽ bằng 3 lần chiều dài Việt Nam. Thử thách đầu đời vừa khổ vừa vui vì chẳng ai còn nhớ tên anh, chỉ gọi thân mật “gã bán than”. Thậm chí mãi sau này, dù anh ngồi vá xe vỉa hè, thu gom phế liệu, chạy xe thồ … đến ngồi ghế giám đốc bạn bè vẫn quen gọi như thế.

Chắt bóp nhiều năm mới giắt lưng được 2,5 chỉ vàng. Giữa năm 1978, anh  hùn hạp với 7 thành viên, có sự phối hợp của Ban Giám hiệu Trường Hướng nghiệp Thủ Đức lập nên cơ sở sản xuất bánh tráng xuất khẩu đầu tiên tại Tp.HCM.  2,5 chỉ vàng  là vốn nhỏ,  đồng nghĩa với việc phải chấp nhận thiệt thòi nhiều hơn trên thương trường. Và thế là, hai năm mài lưng trên vỉ phơi bánh tráng không được tấc công mà 2,5 chỉ vàng cũng bay vì cơ sở non trẻ, hầu hết đều thiếu kinh nghiệm, làm ăn thua lỗ, dẫn tới giải thể. Gia tài còn lại là mấy tấm vỉ tre, mấy lò tráng bánh bằng đất sét.

Không bó gối kêu trời, anh quyết làm lại từ đầu bằng nguồn vốn 5 cây vàng của bạn hàng  than cho mượn. Rút kinh nghiệm từ thất bại trước, anh phối hợp với Trường Nuôi dạy trẻ Thủ Đức trên đường Võ Văn Ngân mở cơ sở sản xuất bánh tráng xuất khẩu ngay trong khuôn viên nhà trường. Trên cương vị giám đốc, có sự hỗ trợ nhiệt tình từ phía nhà trường và các phòng, ban lương thực huyện, thành phố, anh cho ra lò hàng loạt sản phẩm, nhưng chỉ đạt 2/3 loại A để xuất khẩu. Tình trạng này kéo dài lại chịu sức ép cạnh tranh quá gay gắt mà không tìm được hướng khắc phục, mặc dù anh luôn có được sự động viên từ nhiều phía sau khi nhận Huy chương Bạc về sản phẩm ở Hội chợ Giảng Võ, Hà Nội năm 1989. Giữa lúc đó, cơ sở lại dời đổi do mặt bằng thuê mướn không ổn định, nguồn vốn mỗi ngày mỗi thâm thủng nghiêm trọng,  cuối cùng cụt vốn, đẩy anh tới chỗ mất sạch 5 cây vàng mà còn nợ 70 triệu đồng. Thất bại rồi thất bại, như một chuỗi chì nặng nghìn cân, anh gần như kiệt lực, quỵ ngã nếu không có sự tiếp tay kịp thời của anh Nguyễn Nho Thương (nhà thơ Hướng Dương).

Tháng 4-1994, anh chính thức nhận giấy phép thành lập Công ty Lương thực xuất khẩu, văn phòng ở Hóc Môn nhưng cơ sở sản xuất lại ở Thủ Đức. Cầm cự 4 năm, phải thuê 2 lần mặt bằng mới, cuối cùng hết chỗ thuê đành lui về Củ Chi. Không ngờ đất thành đồng lại ưu đãi người con xa quê, giúp cơ sở nhanh chóng thu hút khách hàng từ nhiều nước trên thế giới.

Với dàn máy hiện đại và dây chuyền sản xuất khép kín từ khâu máy bột, tráng bánh, hong sấy tới đóng gói, cơ sở của anh đã cải thiện, khắc phục được tình trạng ô nhiễm môi trường, giảm công lao động xuống còn trên dưới 50 người, làm việc và hưởng lương theo sản phẩm.

Cung không đủ cầu

27 năm làm bánh tráng xuất khẩu, anh đã dày công nghiên cứu sách vở, đúc kết kinh nghiệm, chế biến các sản phẩm khô đạt tiêu chuẩn quốc tế từ gạo, được các nước trên thế giới ưa chuộng, liên tục đặt hàng. Từ một doanh nghiệp chuyên sâu bánh tráng xuất khẩu, anh đã từng bước cho ra đời hàng loạt các sản phẩm khô mang hương vị, chất liệu đặc trưng Việt Nam như: bánh phở, mì hủ tiếu, bánh canh, nấm mèo, bún tàu, bún khô … Đặc biệt, sản phẩm bánh phở xuất khẩu do anh sáng chế lần đầu tiên bán ra nước ngoài được ủng hộ nồng nhiệt nhờ kỹ thuật chế biến vừa trắng, dẻo, thơm ngon tuyệt hảo, nhất là bún khô qua ngâm trụng nước giống hệt bún tươi mới ra lò tại quê nhà. Tiếc rằng các mặt hàng do cơ sở anh sản xuất nhằm xuất khẩu nên không có mặt trên thị trường Việt Nam, nhưng thương hiệu “sản phẩm chất lượng cao” của DNTN Phong Phú luôn tạo được ấn tượng tốt ở mọi cuộc triển lãm trên cả nước.

Đồng tác giả của nhiều sản phẩm lương thực khô tự chế,  anh còn là chủ nhân của các máy sấy nội địa, thay thế máy ngoại nhập nhưng chưa hề nhận bằng sáng chế. Hỏi anh vì sao, anh bộc bạch: “Tôi học ở mọi người, mọi nơi và vốn kinh nghiệm rồi vẽ ra trong đầu, sau đó chuyển giao kỹ thuật thực hiện, trong số này có bà xã tôi, vừa là chuyên viên chế biến, vừa là “kỹ sư” bảo mẫu, vừa là quản gia đắc lực, không có cô ấy chắc bây giờ tôi vẫn còn … bán than”.

Cho dù cung không đủ cầu, cơ sở vẫn đặt yêu cầu chất lượng sản phẩm, uy tín thương hiệu lên hàng đầu, không chạy theo lợi nhuận để ký hợp đồng  đặt hàng với nhiều đối tác mới,  vì lợi ích lâu dài và nhất là vì sản phẩm mang thương hiệu  Việt Nam.

Trước cánh cửa WTO đang rộng mở, anh đã lên phương án mở rộng, nâng cấp hoàn thiện một số hạng mục của cơ sở từ chỗ 4ha như hiện nay lên 10ha gồm văn phòng, phân xưởng, nhà kho và các thủ tục giấy tờ đạt tiêu chuẩn ISO 9002 quốc tế, tạo thế chủ động, sớm thích nghi với vận hội mới.

Nguyễn Tam Phù Sa

.
.
.
.
.