Bền vững với gạch không nung

;
Thứ Hai, 13/05/2019, 14:40 [GMT+7]

Nhiều doanh nghiệp trẻ trên địa bàn tỉnh vẫn bền bỉ sản xuất gạch không nung (GKN) đạt chất lượng cao, tạo thương hiệu uy tín và được khách hàng tin dùng.

Khuyến khích sử dụng gạch không nung trong công trình xây dựng. Ảnh: V.S
Khuyến khích sử dụng gạch không nung trong công trình xây dựng. Ảnh: V.S

Điểm sáng Hương Sen

Tại Cụm công nghiệp Nam Dương, nhà máy GKN Hương Sen vừa lắp đặt hoàn thiện dây chuyền sản xuất GKN công suất 63 triệu viên quy tiêu chuẩn/năm với tổng vốn đầu tư 40 tỷ đồng. Chủ nhà máy cho biết, từ một tổ hợp sản xuất GKN thủ công, đến năm 2013 thành lập Công ty CP GKN hoàn toàn bằng vốn gia đình. Sản phẩm cốt lõi là sản xuất GKN cốt liệu xi măng đảm bảo về chất lượng, bảo vệ môi trường, giá cả cạnh tranh nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho khách hàng. Muốn có sản phẩm GKN tốt phải tuân thủ nghiêm các quy định kỹ thuật. Đầu tiên là nguyên liệu đầu vào, gồm bột đá nguyên chất và xi măng đúng chuẩn. Thứ hai là kỹ thuật máy ép, đạt chuẩn như độ chịu lực 75 Newton (max 75). Thứ ba là bảo dưỡng sản phẩm GKN đúng chuẩn. Dưới cái nắng oi nồng, từng lô sản phẩm GKN mới ra lò được tưới phun sương bằng nước nóng (dẫn từ bể 300 lít trên mái nhà xưởng sử dụng pin năng lượng mặt trời), phun sương 3 lần như thế; khoảng 8 - 12 giờ sau GKN lại được tưới nước lạnh; rồi được nhúng ngâm trong bể chứa cho GKN “no nước”, hết nổi bọt mới thôi; cuối cùng tập kết ra bãi. Quy trình đảm bảo đúng 21 ngày cho một lô sản phẩm GKN Hương Sen xuất xưởng.

Bà Văn Ngọc Hương - Giám đốc Công ty GKN Hương Sen cho biết, sản phẩm GKN Hương Sen đã được các đối tác lớn như Công ty CP Vinaconex 25 lựa chọn, đưa vào xây dựng những công trình cao tầng kỹ thuật ở Hội An, Điện Bàn và Đà Nẵng. Dù mới chạy được nửa công suất (35 triệu viên/năm) nhưng tin rằng, Công ty GKN Hương Sen sẽ tiếp tục khẳng định thương hiệu, được nhiều khách hàng lựa chọn trong tương lai.

Xu hướng tất yếu

Theo ông Nguyễn Phú - Giám đốc Sở Xây dựng, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 67 nhà máy, cơ sở sản xuất VLXD, trong đó có: 22 nhà máy GKN, công suất gần 529 triệu viên/năm; 35 nhà máy sản xuất gạch đất sét nung, công suất 602 triệu viên/năm. Tiêu biểu sản xuất GKN là Công ty TNHH MTV thương mại Tâm Phúc Nguyên, công suất 50 triệu viên/năm tại huyện Đại Lộc  sản xuất đến đâu tiêu thụ hết đấy. Hay HTX GKN Hiệp Hưng công suất 35 triệu viên/năm được khách hàng Đà Nẵng lựa chọn hàng đầu. Đặc biệt, Công ty TNHH Phú Long vinh dự “Đạt Top 10 sản phẩm VLXD tiêu biểu khu vực châu Á - Thái Bình Dương” và “Đạt Top 50 thương hiệu xây dựng uy tín khu vực châu Á - Thái Bình Dương” do Viện Khoa học Kinh tế xây dựng và Tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương bình chọn ngày 20.4 vừa qua. Hiện nhà máy sản xuất GKN Phú Long tại huyện Núi Thành chạy 100% công suất 30 triệu viên/năm mới đáp ứng kịp nhu cầu xây dựng mở rộng kho bãi, show room của Công ty CP Ô tô Trường Hải .

Ưu điểm sản xuất GKN là không sử dụng đất nông nghiệp, không dùng than củi, tránh việc phá rừng và đảm bảo môi trường, nguyên vật liệu sản xuất GKN phong phú và có sẵn... Sản phẩm GKN đang là xu hướng tất yếu của thị trường. Những năm qua, tất cả các công trình sử dụng vốn ngân sách của địa phương đều bắt buộc sử dụng GKN như: Bệnh viện Nhi Quảng Nam; Trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm; Trụ sở Cục thuế Quảng Nam; Trụ sở Chi cục thuế TP.Tam Kỳ,...

Thực tế, không ít nhà thầu chạy theo lợi nhuận, đưa GKN giá rẻ, không đảm bảo chất lượng vào các công trình xây dựng khiến người dân mất niềm tin vào GKN. Một số doanh nghiệp sản xuất GKN không tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, VLXD không nung (theo QCVN 16:2017/BXD và TCVN 6477:2016); bán sản phẩm GKN chưa đủ thời gian đông kết nên khi thi công các công trình sử dụng GKN này đã xảy ra hiện tượng co ngót, rạn nứt hoặc tường bị thấm... Mặt khác, chưa có tiêu chuẩn về thi công với gạch bê tông. Nhiều nhà máy gạch tuynen gặp khó khăn về vốn và công nghệ trong quá trình chuyển đổi mô hình sản xuất GKN. Ông Nguyễn Phú cho rằng, thời gian đến Sở Xây dựng sẽ tập trung thanh tra, kiểm tra về chất lượng, số lượng đầu ra của các nhà máy GKN trên địa bàn tỉnh. Kể từ nay, việc đầu tư xây dựng và phát triển sản xuất GKN cũng cần phải xem xét, đánh giá cung cầu từng địa phương cụ thể, ưu tiên đầu tư các nhà máy trên địa bàn huyện miền núi, địa phương chưa có nhà máy sản xuất vật liệu xây và khuyến khích phát triển các loại vật liệu công nghệ cao, vật liệu nhẹ. Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, nội dung liên quan đến GKN cần được đẩy mạnh hơn nữa đến nhà thầu, tư vấn thiết kế, người dân.

VĂN SANH

.
.
.
.
.