Phong trào nuôi cá nước ngọt ở miền núi: Chuyển động từ mô hình VAC

;
Thứ Hai, 12/06/2006, 11:07 [GMT+7]

Được  Tổ chức Tầm nhìn thế giới hỗ trợ cùng chương trình trợ cước trợ giá ở miền núi tiếp sức, việc nuôi cá nước ngọt  ở miền núi đang phát triển rầm rộ. Anh Nguyễn Hữu Thông (thôn An Mỹ, Thăng Phước, Hiệp Đức, người  sở hữu ao cá rộng 2,5 ha, cho biết : "Cái khó là chọn địa điểm nuôi. Nhưng một khi cá đã thích nghi rồi thì độ rủi ro thấp hơn miền xuôi. Nguyên nhân là vì nước ở đây ít bị ô nhiễm. Mặt khác, mật độ thả giống cũng thưa hơn (bình quân 3 con/m2)". Tận dụng đất trong vườn nhà, đồng bào đào ao thả cá ban đầu chỉ nhằm để cải thiện bữa ăn hằng ngày, nhưng sau thì thấy hiệu quả kinh tế lớn nên tìm đất xây dựng ao nuôi. Theo Giám đốc Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Bùi Quang Minh,  phong trào nuôi cá nước ngọt đã dấy lên rầm rộ ở hầu hết các địa phương miền núi. Chẳng hạn như Nam Trà My  có 156 hộ, Bắc Trà My : 171 hộ, Đông Giang : 662 hộ, Hiệp Đức : 300 hộ, Nam  Giang gần 1.000 hộ, Phước Sơn : 146 hộ ... Đáng nói là, đối tượng nuôi ngày càng đa dạng, chiếm ưu thế là cá rô phi dòng Gift, cá chép, cá mè, cá trôi, cá trắm...

Mô hình nuôi cá nước ngọt ở miền núi  không chỉ dừng lại ở việc cải thiện bữa ăn gia đình mà đang phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu của thị trường nội địa,  thậm chí có nơi còn xuất khẩu cá nước ngọt. Anh Lê Trung Hoàng (xã Sông Trà, Hiệp Đức) khẳng định : "Với 2 vụ/năm  và với 4.000m2 ao nuôi cá chép, rô phi dòng Gift, xen kẽ với cá trôi, cá trắm cỏ...  đã cho lãi ròng hàng chục triệu đồng. Việc tiêu thụ cũng đỡ vất vả hơn trước đây nhiều, vì tới mùa thu hoạch  một số nhà buôn, nhà hàng... đã đến tận nơi thu mua". Thức ăn cho cá cũng dần loại bỏ kiểu chế biến thủ công, thay vào đó là thức ăn công nghiệp... Nhờ thế, năng suất không thua gì so với đồng bằng (dao động trên dưới 6 tấn/ha/vụ).

Nhằm giảm bớt kinh phí vận chuyển con giống từ dưới xuôi, 2 huyện Phước Sơn và Nam Trà My đã xây dựng được hai mô hình ương cá rô phi đơn tính dòng Gift. Hằng năm, hàng triệu con giống các loại  được cung cấp cho  nhân dân.  Anh Lê Văn Hòa, chuyên viên phụ trách mảng thủy sản của Phòng Kinh tế huyện  Bắc Trà My nhận định : "Nuôi cá ở miền núi hiệu quả lắm. Ngoài sự cải thiện bữa ăn hằng ngày, còn cho đồng bào thu nhập khá. Trung bình một sào nuôi cá nếu biết vận dụng đúng như kỹ thuật đã tập huấn thì chí ít cũng thu về vài triệu đồng/vụ”. Tại vùng núi xa xôi Nam Trà My, số lượng con giống cung cấp từ đầu năm đến giờ đã 3 triệu con. Trong số đó, cá rô phi dòng Gift đã chiếm 2 triệu con... Lý giải nguyên nhân phong trào nuôi cá nước ngọt miền núi phát triển mạnh, Giám đốc Bùi Quang Minh cho biết  : “Trước hết là nhờ những thông tin về tính hiệu quả đã lan nhanh đến đồng bào; đồng thời các chương trình, kế hoạch tập huấn về công tác khuyến ngư được thực thi mạnh trong thời gian qua. Mô hình này rất thiết thực với bà con, giúp họ tự tạo được thực phẩm tươi tại chỗ; mặt khác có thể phát triển kinh tế hộ”.

Những thành công ban đầu trong việc  thử nghiệm  mô hình nuôi cá nước ngọt ở miền núi  là tín hiệu vui. Tuy nhiên, để đồng bào miền núi xem đây là "cần câu cơm" thực sự, ngành thủy sản cần xây dựng đề án phát triển mô hình nuôi cá nước ngọt ở miền núi một cách khoa học trên cơ sở phân tích cụ thể những giá trị kinh tế từ mô hình này cũng như dự báo những rủi ro và cả tiên liệu về thị trường tiêu thụ. Hiện, phong trào còn có hạn chế là chậm chuyển giao kỹ thuật nuôi trồng; gần như chưa có trung tâm cung cấp giống cá nào quy mô ở miền núi, mạng lưới khuyến ngư viên ở cấp huyện, xã hầu như không có...Chừng nào giải quyết cơ bản những yếu tố trên, việc khuyến cáo cho đồng bào nuôi cá nước ngọt cũng không phải là quá muộn. Như thế, nghề nuôi cá nước ngọt ở miền núi hay miền xuôi sẽ hạn chế được tình trạng "làm kinh tế ảo" theo phong trào mà dư luận xã hội đã từng lên tiếng như một số mô hình trồng xoài, trồng quế...

Hữu Phúc

.
.
.
.
.