Dưới bóng đa An Hải

LÊ THÍ |

An Hải - ngôi làng nhỏ nằm ở bờ tây sông Hàn (thuộc tổng An Lưu Hạ, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn trước đây) là nơi sản sinh hai danh tướng Trần Quang Diệu và Nguyễn Văn Thoại. Dù là danh thần của hai triều đại sống chết với nhau nhưng giữa hai người đã để lại một tình bạn tuyệt vời, lưu danh trong sử sách!

Đình tiền hiền làng An Hải, nơi có gian thờ Nguyễn Văn Thoại và mộ Trần Quang Diệu.
Đình tiền hiền làng An Hải, nơi có gian thờ Nguyễn Văn Thoại và mộ Trần Quang Diệu.

Hai danh sĩ làng An Hải

Trần Quang Diệu tên thật Trần Văn Đạt, là một trong “Tây Sơn thất hổ”. Ông sinh năm 1760, là con ông Trần Tấn và bà Phan Thị Hy, tại làng An Hải, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, nay là phường An Hải Tây, quận Sơn Trà. TP.Đà Nẵng. Nguyễn Văn Thoại sinh ngày 26.11.1761, là con ông Nguyễn Văn Lượng và bà Nguyễn Thị Tuyết, cũng tại làng An Hải.

Chuyện kể, vào một ngày cuối xuân năm 1775, cạnh bến đò Hà Thân trên sông Hàn thuộc làng An Hải, hai chàng thiếu niên Trần Quang Diệu và Nguyễn Văn Thoại đang tắm sông thì quan sở tại với bộ điệu hách dịch đi  qua. Thấy bực Nguyễn Văn Thoại liền té (tát) nước vào vị quan này khiến quan tức giận nhảy xuống đánh. Thấy vậy, Trần Quang Diệu nhảy vào cứu bạn. Vốn đang sức trai lại rất giỏi võ, hai người hiệp sức “dần” vị quan một trận ra trò, xong đem nhận nước rồi mới lôi lên bờ cho phơi nắng.

Vì việc động trời này nên gia đình Nguyễn Văn Thoại tức tốc đưa con lên ghe bầu dong thẳng vào Nam, đến định cư ở Cù lao Dài trên sông Cổ Chiên thuộc tỉnh Vĩnh Long; còn gia đình Trần Quang Diệu neo đơn hơn (cha chết sớm) nên chỉ mang con chạy về quê ngoại là làng Trà Khê, gần chân núi Ngũ Hành Sơn để lánh nạn.

Một thời gian sau, Trần Quang Diệu thấy chưa yên bèn một mình trốn vào vùng rừng núi An Khê, Bình Định làm nghề săn bắn để sinh sống.

Cuối năm 1777, Nguyễn Văn Thoại theo phò Nguyễn Ánh. Năm 1785, làm Thống binh cai cơ, phò Nguyễn Ánh sang Xiêm. Năm 1791, ông làm Trấn thủ Tắc Khai (Bà Rịa), đến năm 1800, làm Khâm sai Thượng đạo Đại tướng quân cai quản cả vùng Vạn Tượng, Nghệ An, Phú Xuân. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi ông được phong làm Thống binh cai cơ, rồi Trấn thủ Định Tường, Trấn thủ Vĩnh Thanh (vùng Hà Tiên). Ông cũng được Gia Long cử sang bảo hộ Cao Miên (Campuchia) nên còn gọi là Bảo hộ Thoại.

Ông là người có công khai phá vùng đất ở Tây Nam Bộ, đặt nền móng cai trị lâu dài của nước ta trên vùng đất biên viễn này. Tên ông và vợ ông đã khắc vào tên sông tên núi ở vùng này với hai ngọn Thoại Sơn, Vĩnh Tế sơn và hai kênh Thoại Hà, Vĩnh Tế hà.

Nguyễn Văn Thoại cũng có nhiều đóng góp cho làng An Hải đặc biệt nhất là việc xây chợ Hà Thân và tu sửa đình tiền hiền của làng. Để ghi nhớ công lao của ông đối với quê hương, dân làng An Hải tôn vinh ông là hậu hiền và thờ ông trong đình tiền hiền của làng cùng các vị tiền hiền.

Đời sau đánh giá ông là người có tâm và có tầm với cái nhìn chiến lược, có ý chí kiên định và là người tài đức vẹn toàn. Ngoài vai trò là một danh tướng, nhà doanh điền, nhà quản lý hành chánh, nhà văn hóa và ngoại giao giỏi, ông còn là một người con luôn nặng tình với quê hương, với đồng đội, vợ con và bằng hữu.

*
*                       *

Cũng vào cuối năm 1777, trong một buổi đi săn Trần Quang Diệu bị cọp vồ, may nhờ được Bùi Thị Xuân cứu mới thoát chết. Sau này ông và Bùi Thị Xuân trở thành vợ chồng và cùng theo phò ba anh em nhà Tây Sơn. Ông đã chinh chiến từ Nam ra Bắc, cùng vợ hết lòng phò tá nhà Tây Sơn, tham gia đánh tan hai vạn quân Xiêm trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút, làm tiên phong trong đạo Trung quân dưới quyền chỉ huy của Quang Trung đánh bại 20 vạn quân Thanh năm 1789. Ông từng trải qua nhiều chức vụ quan trọng như Tổng quản coi việc xây dựng Phượng hoàng trung đô ở Nghệ An, Thái phó Quận công. Nhà Tây Sơn đã phong Trần Quang Diệu là một trong “Tây Sơn thất hổ”.

Trần Quang Diệu là một võ tướng có lòng bao dung nhân hậu. Khi hạ thành Quy Nhơn năm 1801 ông đã cho tẩm liệm chôn cất chu đáo hai tướng Võ Tánh, Ngô Tùng Châu (theo nghi lễ cấp tướng) - là những tướng lĩnh đã tuẫn tiết theo thành và tha hàng vạn dân binh tướng sĩ của Nguyễn Ánh.

Năm 1802, sa cơ ông bị bắt ở Nghệ An. Ông cùng vợ và con gái bị Gia Long hành hình một cách dã man. Thân tộc ông cũng bị lãnh án tru di vì vậy phải chịu cảnh “sanh vi Nguyễn, thác vi Trần” (sống mang họ Nguyễn, chết mới trở lại họ Trần).

Tình bạn vĩnh hằng

Trần Quang Diệu và Nguyễn Văn Thoại là đồng hương, hai người bạn nhưng vì thời thế đi hai con đường khác nhau, phò hai triều đại một mất một còn với nhau. Nhưng đặc biệt suốt 25 năm cầm quân chinh chiến, hai ông chưa bao giờ đem quân đánh nhau. Một lần duy nhất vào năm 1801, Nguyễn Văn Thoại mang quân từ Vạn Tượng tiến đánh Phú Xuân, nghe tin Trần Quang Diệu đem quân từ Quy Nhơn ra cứu viện. Không muốn đối đầu nhau, ông thình lình giao quyền lại cho phó tướng Lưu Phước Tường rồi về lại Gia Định mà không có lệnh triệu hồi nào cả, vì thế bị giáng xuống làm Cai đội. Vì việc này mà ông bị Nguyễn Ánh nghi ngờ. Rồi khi thân tộc của Trần Quang Diệu bị tru di phải đổi từ họ Trần sang họ Nguyễn là họ của Nguyễn Văn Thoại (đến khi chết mới lén phục trở lại họ Trần). Trong sự cố “sanh vi Nguyễn, thác vi Trần” này có ai dám chắc là không có sự can thiệp, hướng dẫn ngầm của Nguyễn Văn Thoại (?!). Con cháu Trần Quang Diệu phải núp bóng họ Nguyễn, dựa vào uy danh của Nguyễn Văn Thoại để được tiếp tục tồn tại. Nguyễn Văn Thoại cũng đã mua 5 mẫu ruộng ở quê giao cho người vợ thứ quản lý để lấy hoa lợi hương khói cho Trần Quang Diệu.

Dù vì thời thế phải ở hai bên chiến tuyến nhưng cách hành xử của Nguyễn Văn Thoại và Trần Quang Diệu để lại cho đời sau những bài học sâu sắc về tình bạn và sự hòa giải dân tộc. Cùng thời và cùng hoàn cảnh như hai ông nhưng hai danh sĩ  Bắc Hà - dù có học vị cao hơn - lại xử sự không được như vậy. Đó là trường hợp của Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhậm (là bạn của nhau nhưng Ngô Thời Nhậm theo Tây Sơn còn Đặng Trần Thường theo Nguyễn Ánh). Khi Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh lên ngôi, Thường đã nọc Ngô Thời Nhậm ra đánh bằng roi mây tẩm thuốc độc cho đến chết ở Văn Miếu Hà Nội. Trước đó hai bên lại còn đem tài học và văn chương ra mà mỉa nhau, đã để lại cho đời hai câu đối, hay thì thật hay nhưng cũng thật cay đắng: “Ai công hầu ai khanh tướng/trong trần ai ai dễ biết ai? Thế chiến quốc thế xuân thu/gặp thời thế thế thời phải thế!“.

Hiện ngôi lăng mộ của Thái phó Quận công Trần Quang Diệu và đền thờ Thống chế Thoại Ngọc hầu vẫn nằm bên nhau, dưới bóng che của cây đa cổ thụ ở đình tiền hiền làng An Hải, nơi quê hai ông, như một minh chứng hùng hồn cho những tình bạn vĩnh hằng bất chấp sự hưng phế của các triều đại.

LÊ THÍ