Gặp tác giả 3.000 câu thơ nơi ngục Chín Hầm

VÕ VĂN TRƯỜNG |

Khi học ở Huế, tôi từng có dịp đến thăm di tích ngục Chín Hầm nói về tội ác của lãnh chúa miền Trung Ngô Đình Cẩn, nghe câu chuyện về một chiến sĩ tình báo của ta bị địch đày ải chốn địa ngục nơi này. Song, trong ranh giới mỏng manh giữa sự sống và cái chết, ông đã viết bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác kẻ thù với 3.000 câu thơ.  Người chiến sĩ tình báo ấy là Đại tá Nguyễn Minh Vân, tên thật là Nguyễn Đình Quảng, quê xã Quế Lộc, huyện Nông Sơn.

Tác giả bài viết và đại tá Nguyễn Minh Vân (giữa), ông Trần Phú Thành - con trai nhà cách mạng Trần Tống (phải).
Tác giả bài viết và đại tá Nguyễn Minh Vân (giữa), ông Trần Phú Thành - con trai nhà cách mạng Trần Tống (phải).

Tự hào là người Quảng

Thật đúng nghĩa tình cờ chúng tôi đã tìm được nhà Đại tá Nguyễn Minh Vân ở ngõ 359, đường Âu Cơ, phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, TP.Hà Nội. Biết chúng tôi từ Đài Phát thanh – truyền hình Quảng Nam ra để thực hiện phim tư liệu về nhà cách mạng Phan Bôi tức Hoàng Hữu Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, ông Vân cũng như gia đình rất vui, niềm nở đón tiếp. Dù tuổi đã ngoài 90 nhưng ông Vân khá minh mẫn, đôi mắt sáng, cử chỉ lanh lẹ. Câu chuyện với ông giúp chúng tôi biết thêm nhiều điều về 3.000 câu thơ nơi ngục Chín Hầm. Ông bảo mình luôn tự hào là người Quảng Nam và là những người nằm trong diện từ Quảng ra thủ đô giúp việc cho Chính phủ, cho đất nước.

Vì sao ông lại gặp và được chọn làm thư ký riêng cho nguyên Thứ trưởng Hoàng Hữu Nam? Đây là câu chuyện dài. Ông kể: “Tuy quê ở Quế Lộc nhưng tôi theo học trường Quốc học Huế từ trước 1945. Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã là người thầy dìu dắt tôi từ đấy. Sau khi nước nhà độc lập, 4.1946, với tư cách Bộ trưởng Chính phủ mới do Bác Hồ mời ra làm việc, cụ Huỳnh đã cho gọi tôi ra Hà Nội và giới thiệu tôi làm thư ký riêng cho đồng chí Hoàng Hữu Nam”. “Có phải từ đó ông gắn bó với Hà Nội và ngành tình báo?”. “Đúng vậy”.

Trong bản lý lịch viết tay mà ông Vân cho chúng tôi xem, sau khoảng một tháng  làm việc ở Phủ Chủ tịch, ông được chuyển đến nhà số 12 phố Rialan, tức phố Phan Đình Phùng ngày nay. Đó là trụ sở cơ quan Liên kiểm quân sự Việt  - Pháp Trung ương. Tháng 1.1947 khi toàn ngành tình báo sắp xếp tổ chức cho phù hợp tình hình mới, ông Vân được phân công làm Trưởng ban tình báo Hà Nội và được kết nạp  Đảng vào ngày 3.2.1947. Vợ ông Vân là bà Nguyễn Thị Thìn, quê xã đồng Áng, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Bà từng là tự vệ chiến đấu cứu quốc thành Hoàng Diệu, trong Trung đội Nguyễn Thị Minh Khai, sau đó cũng theo ông hoạt động trong mạng lưới tình báo Hà Nội.

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tá Nguyễn Đình Vân, một người con đất Quảng gắn liền với những chiến công thầm lặng trong lĩnh vực tình báo, đặc biệt nơi chốn lao tù ông đã làm được những việc mà mọi người nể phục, quân thù khiếp sợ.

Bản cáo trạng bằng thơ

Nhắc về những câu thơ viết dưới ngục Chín Hầm, ông Vân trầm tư một hồi rất lâu. Vợ con ông nhắc chúng tôi, ông đang xúc động lắm đấy!(...). Ông kể, tháng 6 năm 1956, tôi nhận nhiệm vụ từ cơ quan tình báo chiến lược ngoài Hà Nội vào Huế để nắm mạng lưới điệp báo miền Trung. Việc không thành do địch đang đẩy mạnh chiến dịch tố cộng diệt cộng, đánh phá dữ dội vào các tổ chức của ta trên khắp địa bàn. Giữa năm 1957, Thường vụ Khu ủy nhất trí với Cơ quan tình báo chiến lược Trung ương, phải cho tôi chuyển vùng vào Sài Gòn để nắm một lưới điệp báo đặc biệt của khu. Công việc của tôi đang bắt đầu có hiệu quả thì ngày 1.11.1957 tôi bị bọn mật vụ miền Trung vào bắt, do có sự đầu hàng khai báo của một số cán bộ cơ sở trong lưới mà tôi mới được bàn giao.

Ông Vân bị đưa vào trại giam đặc biệt P.42 của mật vụ Ngô Đình Nhu tra khảo. Không thu được kết quả, tháng 2.1958, chúng đưa ông ra Huế, giam vào lao xá Ty công an Thừa Thiên, nơi tên bạo chúa Ngô Đình Cẩn đang làm mưa làm gió. Ông Vân nhớ lại có đến hai lần Ngô Đình Cẩn cho Giám đốc Công an Trung phần Lê Khắc Duyệt mang xe hơi đến mời ông về nhà riêng của Cẩn và một lần về nhà thờ Phú Cam để mua chuộc. Biết không lay chuyển ý chí cách mạng của người chiến sĩ tình báo, chúng đưa ông Vân sang giam ở đồn Mang Cá rồi đưa đến tử ngục Chín Hầm. Đây là nơi cách ly hoàn toàn với  xã hội, không còn được nghe gì, thấy gì cuộc sống trên trái đất, không gian là 2 mét khối không khí của cái chuồng tăm tối, hôi hám, ngạt thở trong lòng đất. Trong thời gian ngắn ông Vân chứng kiến nhiều đồng đội hy sinh thê thảm trong ngục tối. Ông đã nghĩ ra cách làm thơ kể lại mọi tội ác trong nhà tù. Và như thế vào khoảng cuối năm 1962, đầu năm 1963, ông đã làm và nhẩm thuộc tất cả những câu thơ của mình. Câu thơ thứ 3.000 được ông ghi nhớ đúng vào ngày sinh của con trai mình (2.11.1963). Ông và những câu thơ trong tù ấy đã thoát ra ngoài nhờ cuộc đảo chính lật đổ chế độ họ Ngô. Là một trong số 3 tử tù thoát chết từ ngục Chín Hầm được chuyển về  giam ở Ty công an Huế, trong thời gian này, ông Vân đã chép tay 3.000 câu thơ thành hai bản nhờ bạn tù được địch thả đưa ra ngoài.

Cuối tháng 6.1964, nhật báo Chuông Mai xuất bản ở Sài Gòn đã in một loạt bài kể lại câu chuyện về “người âm phủ”, “người hầm” cùng một số đoạn thơ trích dẫn khiến dư luận hết sức phẫn nộ. Đặc biệt,  theo ông Vân số phận có hậu của tập thơ sống trong mồ do ông viết là lần đầu tiên nó được xuất bản vào  20.12.1973 do Tố Hữu, khi đó đảm trách công tác văn hóa tư tưởng của Đảng viết lời giới thiệu, NXB Văn học ấn hành 15.200 bản. Ngay sau đó, nhà thơ Tế Hanh đã viết một bài bằng tiếng Pháp về tập thơ gửi đăng trên tạp chí EucoPe ở Pháp. Sức ảnh hưởng của tập thơ đã lan đi rất nhanh, không bởi hình thức nghệ thuật mà đó chính là nội dung bản cáo trạng tội ác trời không dung đất không tha của quân thù với người tù cách mạng mà nhà thơ chính là nhân vật đã trải qua. Sáu câu thơ viết để tiễn đưa một người bạn đến bây giờ ông vẫn không quên và đọc cho chúng tôi nghe trước lúc chia tay: “Lời trăng trối mang hồn người sắp chết/ Vọng qua vách, trang nghiêm mà thống thiết/ Các anh ơi! Cố sống thoát một người/ Về với đồng bào - dù chỉ một người thôi!/ Để tố cáo kiểu hầm giam vô cùng tàn bạo/ Bắt Mỹ ác - Ngụy gian phải đền nợ máu!”.

Thật diệu kỳ người đồng hương Quảng Nam của tôi, nhà tình báo tiền bối của đất nước, người tử tù nơi ngục Chín Hầm, giờ đây đang ngồi trước chúng tôi, đang kể về số phận mình, đất nước mình những năm tháng khói lửa của cuộc chiến vệ quốc vĩ đại mà với lứa tuổi chúng tôi nhiều điều vẫn nằm ngoài sức tưởng tượng…

VÕ VĂN TRƯỜNG