250 năm Phường Rạnh

PHẠM HỮU ĐĂNG ĐẠT |

Mấy chục năm trước, khách thương hồ xuôi ngược trên sông Thu Bồn không xa lạ với Phường Rạnh hoang vu, núi đồi trùng điệp (nay là làng Trung An, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn). Nhưng không phải ai cũng biết Phường Rạnh được khai phá từ rất sớm, dưới triều Thái Đức nhà Tây Sơn…

Ở Trung An có 3 vị tiền hiền thuộc tộc Nguyễn, Trần và Trịnh. Các tộc đều đến lập nghiệp từ thời Tây Sơn, trong đó tộc Nguyễn đến đầu tiên. Sau Nguyễn là Trịnh và Trần. Theo chuyện kể, hồi ấy, tộc Trịnh vào bằng đường biển, khi đi có 3 anh em. Đầu tiên, họ lập nghiệp ở làng Hòa Mỹ nay thuộc quận Thanh Khê, TP.Đà Nẵng. Sau đó, không biết vì lý do gì, họ đi tiếp vào Quảng Nam. Một ông chọn mảnh đất nay là xã Đại Chánh (huyện Đại Lộc), một ông đến làng Thu Bồn nay thuộc xã Duy Tân (huyện Duy Xuyên), ông thứ ba lên tận Phường Rạnh lập nghiệp. Còn tộc Trần, tương truyền, theo vua vào nam đến Bình Định lập nghiệp. Khi phong trào nông dân Tây Sơn bùng nổ, ba cha con tộc Trần (Trần Văn Tam và hai con Trần Văn Hiền, Trần Văn Huấn) quay ra Quảng Nam, lên tận vùng đất sau này có danh xưng Trung An sinh sống.

Dấu tích và gia phả chép về Phường Rạnh. Ảnh: P.H.Đ.Đ
Dấu tích và gia phả chép về Phường Rạnh. Ảnh: P.H.Đ.Đ

Đặc biệt, không chỉ truyền khẩu, tộc Trần ở Trung An còn giữ bản gia phả khá đầy đủ. Bản gia phả bằng chữ Hán, được lập vào năm Thành Thái thứ tư (1892). Như vậy, theo tư liệu, đây là bản gia phả được sao chép lại từ một bản gia phả có từ trước. Điều đặc biệt, gia phả tộc Trần cũng ghi lại khá rõ nét nguồn gốc của tộc Trần. Và đúng như lời kể, người đầu tiên tộc Trần vào nam là ngài Trần Văn Tam. Thoạt tiên, ngài vào định cư tại Bình Định, trú ở xã Mộc Bài. Bấy giờ, ở Mộc Bài, tộc Trần là tộc lớn. Khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ, trước khói lửa chiến tranh, ngài dẫn gia quyến đi lánh nạn ở chỗ này. Nhưng đến lập nghiệp ở vùng đất Trung An lúc bấy giờ không chỉ có mình tộc Trần mà còn có 2 tộc khác (Nguyễn và Trịnh, như đã đề cập). Thế là ngài cùng với tiền hiền 2 tộc Nguyễn, Trịnh (tam tộc) cùng xin lập bộ, tức lập sổ sách đất đai của làng. Có thể nói, qua những ghi chép trên, chúng ta có thể khẳng định vùng đất nay có danh xưng là Trung An, nằm trên địa bàn xã Quế Trung (huyện Nông Sơn) được khai phá vào cuối thế kỷ XVIII. Đây cũng là thời điểm mà một số làng xã khác ở Nông Sơn hình thành.

Về nguồn gốc danh xưng Trung An, có câu chuyện kể khá lý thú rằng thời trước, khi người Việt đến lập nghiệp, ở đây đã có dinh Bà Phường Rạnh rất linh thiêng. Ngày nọ, trong làng có ông trùm Tuất họ Nguyễn, khá giàu, bị mất mấy con trâu. Tiếc của, ông mới quyết chí đi tìm cho bằng được. Nhưng ông chưa kịp bước ra khỏi bìa làng thì Bà đã “đạp đầu ngang”, tức mượn xác người sống, hiện lên nạt nộ: “Nhà người đi mô? Nhà ngươi đừng có dại, chết như chơi. Bọn cướp đã chuẩn bị sẵn dao kiếm, nhà ngươi đến chỉ thiệt thân. Nhà ngươi về đi. Còn về phần bọn cướp, nhà ngươi đừng lo. Hễ kẻ nào trung thì được an, còn ai ngang bướng đi trộm cướp sẽ không ra chi”. Từ câu chuyện này, người dân mới lấy tên Trung An đặt tên cho làng với mong muốn bà con sống ở vùng đất này luôn là những người “trung thực” nên được hưởng sự “an lành”.

Danh xưng Trung An gần như chỉ tồn tại trên mặt giấy tờ, khế ước. Còn tên bình dân là Phường Rạnh. Chữ “Rạnh” xuất phát từ con trạnh, một loại động vật có hình dáng như con rùa nhưng rất to, có con to bằng cái nong, sống dưới nước. Người ta gọi làng ven sông này là Phường Trạnh, lâu ngày đọc chệch thành Phường Rạnh. Phường, trong chữ Hán, còn có nghĩa là “làng”. Cho nên, Phường Rạnh còn có thể gọi nôm na là làng Trạnh.

Danh xưng Trung An gần như chỉ tồn tại trên mặt giấy tờ, khế ước. Còn tên bình dân là Phường Rạnh. Cũng như Trung An, danh xưng Phường Rạnh cũng có nguồn gốc, xuất xứ khá đặc biệt. Theo đó, chữ “Rạnh” xuất phát từ con trạnh, một loại động vật có hình dáng như con rùa nhưng rất to, có con to bằng cái nong, sống dưới nước. Nguyên hồi nửa đầu thế kỷ XIX trở về trước, khách thương hồ ngược lên thượng nguồn sông Thu Bồn khi đi ngang đoạn sông chảy qua làng Trung An thỉnh thoảng hay bắt gặp con trạnh trồi lên, có lúc nhiều đến mức đặc kín sông, khiến ghe thuyền phải tránh. Thế cho nên, người ta mới gọi làng ven sông này là Phường Trạnh, lâu ngày đọc chệch thành Phường Rạnh. Phường, trong chữ Hán, còn có nghĩa là “làng”. Cho nên, Phường Rạnh còn có thể gọi nôm na là làng Trạnh.

Nhưng dù Trung An hay Phường Rạnh, mảnh đất này cũng bắt đầu được người Việt đặt chân lên lập nghiệp cách nay gần 250 năm, từ triều Thái Đức nhà Tây Sơn. Thế cho nên trong văn cúng tiền hiền nhằm tưởng nhớ những người đã có công khai sơn phá thạch, lập làng lập xóm, người dân làng Trung An ghi rõ: “Xưa đất Bắc dựng xây tổ nghiệp/ Nay trời Nam kiến trúc cơ ngơi/ Chí tang bồng ngang dọc bốn phương/ Tài thao lược kinh luân một cõi/ Đất Phường Rạnh thời xưa triều Thái Đức/ Ơn tiền nhân khai quốc thổ lắm công trình...”.

PHẠM HỮU ĐĂNG ĐẠT