Nhiều phương án chống hạn cho hạ du

HOÀNG LIÊN |

Các công trình thủy điện, thủy lợi thuộc lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn hoàn toàn có khả năng tham gia chống hạn, cấp nước sinh hoạt cho vùng hạ du từ nay tới năm 2030. Đó là thông tin được TS. Nguyễn Đăng Giáp - Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam công bố mới đây.

Khô hạn nghiêm trọng

Theo TS. Nguyễn Đăng Giáp, chủ nhiệm công trình “Nghiên cứu, đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao khả năng chống hạn, cấp nước sinh hoạt cho vùng hạ du của các công trình thủy lợi, thủy điện trên lưu vực Vu Gia - Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam” thì hạn hán là loại hình thiên tai nghiêm trọng, sau bão và lũ. Theo khảo sát của TS. Giáp và cộng sự trong vòng 31 năm qua (1980-2013), mùa hạn ở Quảng Nam xuất hiện những đợt không mưa kéo dài liên tục (hiện tượng el nino), dòng chảy trên các sông suy kiệt, thời kỳ dòng chảy không ổn định kéo dài từ tháng 5 - tháng 8. Quảng Nam trung bình có 3 tháng hạn mỗi năm, có năm hạn rất nặng, kéo dài từ tháng 1 - tháng 7, 8. Nhìn chung, các tháng thiếu nước tập trung vào tháng 5, 6, vốn là thời điểm bắt đầu gieo trồng vụ hè thu đối với cây lúa và cây màu do nhu cầu lượng nước lớn, cũng là hai tháng có lượng mưa trung bình thấp, bốc hơi lớn, số giờ nắng cao. “Tình trạng thiếu nước, khô hạn diễn ra nghiêm trọng theo diện rộng.

Dòng chảy sông suối tại Nam Trà My suy kiệt vào mùa khô. Ảnh: H.Liên
Dòng chảy sông suối tại Nam Trà My suy kiệt vào mùa khô. Ảnh: H.Liên

Thời gian xuất hiện hạn hán, thiếu nước xuất hiện sớm hơn, mức độ ảnh hưởng rộng hơn, tác động mạnh tới cấp nước cho sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt tại vùng hạ lưu. Dòng chảy trên các sông phân bố không đều theo không gian và thời gian, giữa mùa mưa và mùa khô. Đặc biệt, trong 5 năm trở lại đây, cùng với tác động bất lợi của các hình thế thời tiết cực đoan, lượng mưa trung bình vào mùa khô giảm rõ rệt, càng làm cho tình hình hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng hơn” - TS. Giáp cho biết. Xâm nhập mặn trong 10 năm qua (2005-2015) cũng diễn biến phức tạp. Tình hình nguồn nước vào mùa kiệt (từ tháng 1 - tháng 9) trên các sông Thu Bồn (tại Câu Lâu) và sông Vĩnh Điện (phân lưu của sông Thu Bồn) liên tục bị nước mặn xâm nhập sâu, nồng độ mặn ngày càng lớn, thời gian xuất hiện ngày càng sớm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt tại Duy Xuyên, Điện Bàn và Hội An.

Nhóm nghiên cứu chia lưu vực Vu Gia - Thu Bồn làm 5 tiểu khu vực, gồm vùng thượng Vu Gia, vùng thượng Thu Bồn, lưu vực sông Ly Ly, lưu vực sông Túy Loan và vùng hạ lưu Vu Gia - Thu Bồn. Các vùng đều bị thiếu nước tưới nghiêm trọng trong mùa khô, trong đó lượng thiếu chủ yếu là vùng hạ lưu sông Vu Gia - Thu Bồn, các tháng thiếu chủ yếu tập trung vào 3, 4, 5 hằng năm, tiểu vùng Hiệp Đức - Nông Sơn, Khe Tân - Khe Cống chỉ đạt 50 - 70% mức nước. Theo dự báo đến năm 2030, mỗi năm, vùng thượng Vu Gia có nhu cầu sử dụng 148 triệu m3 nước cho sản xuất và sinh hoạt; vùng thượng Thu Bồn là 540 triệu m3; lưu vực sông Ly Ly là 128 triệu m3; lưu vực sông Túy Loan 105,4 triệu m3 và vùng hạ lưu Vu Gia - Thu Bồn là 824,745 triệu m3

Nhiều giải pháp

Quảng Nam có 73 hồ chứa với tổng dung tích 497,46 triệu m3, tưới cho 22.239 ha, đạt 57,22 % so với thiết kế. Toàn tỉnh có 5 hồ chứa lớn từ 10 triệu m3 nước trở lên; 30 trạm bơm điện trên sông Vu Gia, 50 trạm trên sông Thu Bồn và 4 trạm trên sông Vĩnh Điện; 554 đập dâng phục vụ tưới cho 5.487ha lúa, đạt 76% so với thiết kế… Trên dòng chính sông Vu Gia - Thu Bồn có 11 công trình thủy điện, lớn vừa, đã và đang xây dựng, chưa kể nhiều công trình nhỏ đang xây dựng khác. Dự báo, tổng lượng nước cần cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt vùng lưu vực Vu Gia - Thu Bồn là 89,33 triệu m3/năm. Trong đó, vùng thượng Vu Gia là 5,82 triệu m3/năm, chiếm 6,52%, vùng thượng Thu Bồn là 9,34 triệu m3/năm, lưu vực sông Ly Ly là 4,81 triệu m3/năm, sông Túy Loan là 39,59 triệu m3/năm, vùng hạ lưu sông Vu Gia - Thu Bồn là 30,76 triệu m3/năm, chiếm 44% tổng lượng cấp nước cho sinh hoạt…

Theo TS. Nguyễn Đăng Giáp, qua tính toán các kịch bản về nhu cầu nước khác nhau, cho thấy các hệ thống hồ chứa thượng nguồn trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn hoàn toàn có khả năng đáp ứng nhu cầu nước về mùa kiệt cho vùng hạ du để phục vụ sản xuất, sinh hoạt. Để làm được điều này, các nhà khoa học đề xuất giải pháp vận hành hồ chứa đúng quy trình, tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát khâu vận hành hồ chứa trong thời điểm khô hạn của các cơ quan, đơn vị chức năng. Việc sửa chữa, nâng cấp các công trình sẵn có ở các vùng là giải pháp cấp thiết. Cụ thể, vùng thượng lưu Thu Bồn, cần xây dựng và nâng cấp đối với 89 công trình thủy lợi (41 hồ chứa, 45 đập dâng, 3 trạm bơm) nhằm cấp nước tưới cho 17.000ha cây trồng. Vùng thượng lưu Vu Gia hiện đã xây dựng 246 công trình, 9 hồ chứa, 23 trạm bơm, 214 đập dâng phục vụ tưới cho 2.692ha, nhưng chỉ mới phát huy đạt 86% năng lực thiết kế. Cần phải nâng cấp 14 công trình, 3 trạm bơm Trước Hạ 1, 2, An Điềm, 1 đập dâng và 8 hồ chứa, nhằm tưới thêm cho khoảng 1.000ha; ngoài xây mới 36 công trình, 5 hồ chứa, 29 đập dâng, 2 trạm bơm cấp nước cho sản xuất khác.

Khu vực hạ lưu sông Vu Gia - Thu Bồn thiếu nước khá lớn, bởi có tới 22.000ha đất đai sản xuất, diễn biến dòng chảy phức tạp, có nhiều dòng chảy ngang và gần biển nên bất lợi về hạn hán, xâm nhập mặn. Theo đó, cần nâng cấp trạm bơm Ái Nghĩa (Đại Lộc), Cẩm Vân, Bến Hục (Điện Bàn); xây dựng đập ngăn mặn trên sông Vĩnh Điện và nâng cấp đập chính An Trạch, Thanh Quýt, Bàu Nít. Để cấp nước sinh hoạt và công nghiệp vùng hạ du, các nhà khoa học kiến nghị nâng công suất cấp nước đối với một số nhà máy nước Hội An, Tam Kỳ, xây dựng thêm nhà máy nước sông Thanh Quýt, bên cạnh giữ nguyên các công trình cấp nước tập trung ở vùng nông thôn đã có. Các nhà khoa học đề xuất nhiều giải pháp phi công trình như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng các giống lúa, hoa màu chịu hạn, chịu mặn vào sản xuất, xây dựng mô hình tưới tiêu thông minh. Đối với ngành chức năng, phải có phương án quản lý tốt tài nguyên nước, xác định mức độ ưu tiên trong phân bổ tài nguyên nước hợp lý, tuyên truyền người dân thực hành tiết kiệm nước, tránh lãng phí…

HOÀNG LIÊN