Chuyển động với Thanh Quế

 NGUYỄN NHÃ TIÊN |

Dường như có một bước đi dài, chính xác là một khoảng cách khá xa từ độ Trước nhà em sông Vu Gia cho đến bây giờ Một gạch và chuyển động, và thơ tuyển. Có thể gọi đó là hành trình thơ Thanh Quế, một hành trình đầy ưu tư vật vã để đổi mới thơ mình...

Nhà thơ Thanh Quế. Ảnh: N.N.TIÊN
Nhà thơ Thanh Quế. Ảnh: N.N.TIÊN

Dòng sông nào không còn sức chảy, dòng sông đó sẽ trở thành sông lấp, sông chết. Vùng đầu nguồn thác ghềnh tung tẩy, qua những bình nguyên rong ruổi thong dong, và hạ lưu dùng dằng trước bao la chân trời mênh mông biển cả. Mượn hình ảnh dòng sông để nói về một Thanh Quế thi sĩ trước và sau, cái khoảng cách ấy, cho dẫu đầu nguồn cuối bể, ngôn ngữ thơ anh giờ đây cô đặc quánh lại, qua kinh nghiệm và thao thức tìm tòi, cái chất Thanh Quế qua ngôn ngữ biểu hiện vẫn một cốt cách, một cá tính không lẫn vào đâu được. Ngay từ cái tên gọi tập thơ Một gạch và chuyển động đã như mở ra một khuynh hướng nghệ thuật (hay là một bước ngoặt) trong nỗ lực sáng tạo của nhà thơ. Thì còn gì nữa: “Tôi muốn đổi thơ tôi/ Khác trước/ Dù một từ,một dấu phẩy”(Sự chuyển động).

Đổi được đến như thế, hoặc là một cuộc cách mạng triệt để thơ mình toàn diện, nghĩa là mở hẳn ra một dòng chảy mới, không cam chịu theo cái dòng sông thiên nhiên vốn như một định mệnh bày ra trò chơi của “con tạo”. Hoặc là vẫn dòng sông ấy nhưng gầm réo qua một địa hình bức bối, một thế giới nghe rõ sự chuyển động của từng nỗi ưu tư, từng va đập chạm vào nhau của con chữ. Có những tiêu đề tác phẩm của Thanh Quế, thoạt tiên thấy có vẻ xa vời với văn chương, nó loáng thoáng như một khái niệm mới nào đó về toán học, song đấy lại là tín hiệu của một chuyển động thơ đầy ý thức và bản lĩnh mà nội dung tác phẩm đã thể hiện khá rõ.

Về mặt ngôn từ, nhà thơ  có cách diễn đạt ý tưởng trong lớp vỏ trần trụi thô nhám, mà nói như cách nói của Trúc Thông - bạn anh: “Thanh Quế chiến đấu cho thơ mình bằng thứ ngôn ngữ ít cách điệu hay nói thật chính xác là anh đã cách điệu cho thơ mình bằng một thứ ngôn ngữ sát sạt đời sống, sâu xa ẩn kín trong lớp vỏ thô tháp...”. Đây là một nhận xét đúng đắn có tính kinh nghiệm vừa thông qua tác phẩm vừa hiểu rất rõ tính cách của tác giả. Nhưng ở một bình diện khác, chỉ đơn thuần đối thoại với tác phẩm, chậm rãi đọc thấm từng câu: “Tôi muốn đổi thơ tôi/ Khác trước/ Dù một từ, một dấu phẩy/ Chẳng để làm gì/ Chẳng mong ai biết đến/ Tôi tự chuyển động/ Chỉ để báo rằng mình được sống”(Sự chuyển động). Điều đó cho thấy, dưới cái vẻ bất cần “chẳng để làm gì” kia là cả một “âm ỉ khát vọng” luôn cựa mình, không thỏa mãn, chẳng chịu bình yên, để bật lên tiếng nói của một thứ cảm xúc vốn thường trực trong trái tim đa đoan đầy hệ lụy của kẻ trót mang lấy nghiệp “bắt phong trần phải phong trần” mà “con tạo” đã gán cho thi sĩ!

Có nhiều con đường để hướng đến chân trời mỹ học, song dứt khoát không có con đường nào dành cho sự giả dối. Và vì thế, từ nguồn cảm xúc rất thực, chứ không phải một thứ gì khác, mới có khả năng truyền cảm tạo dựng ra một thế giới thi ca đích thực. Nghệ thuật thơ Thanh Quế ở vào thời anh ngấp nghé ngưỡng cửa “thất thập” là nhặt những con chữ loanh quanh đời thường, tưởng ráo hoảnh, tưởng mòn nhẵn “sáu câu” nhưng... đây mới là sức vóc của nhà thơ, nghĩa là tìm cách va đập những con chữ ấy vào nhau, làm cho chúng tóe lửa, hoặc là vang lên những thanh âm (câm): “Người ta nói: Nếu xa truyền thống văn hóa dân tộc mình/Con người như cây đứt rễ/Không bị bão xô/Không bị sóng quật/Đã bao cây bật gốc/Trong tâm hồn chúng ta”(Người ta nói). Một câu hỏi có khả năng làm lung lay cái niềm tin của bao kẻ đã thui chột ánh nhìn vào thơ chứ chẳng chơi. Thanh Quế lại tiếp tục cái công việc nhặt nhạnh của mình, có thể đấy là tiếng rao của em bé bán hàng rong, câu than vãn của người ăn xin, hoặc bỡn cợt trong cuộc bia bọt nào đó ở quán cóc ven đường. “Khi người khác buồn/ Tôi nói: - Buồn làm gì/ Ta đi tìm vài cốc.../ Suốt ngày tôi cười cợt/ Trêu đùa thảy mọi người/ Không lo nghĩ điều chi/ Nhưng khuôn mặt tí tởn/ Đó là lớp sóng gợn/ Trên hồ buồn đời tôi” (Khi người khác).

Khác hẳn với sự chây ỳ, lười biếng, hoặc cố tạo dựng “lên gân”cho trội một phong cách bí hiểm mà thực ra đấy là sự cùng quẫn của trí tuệ, sự nghèo nàn của cảm xúc, mê hoặc ru ngủ bởi một thứ văn chương hào nhoáng thậm xưng mỹ học, triết học đánh lừa nghệ thuật. Thanh Quế xa lạ với mô típ đó. Khát vọng đổi mới ở anh là... “chỉ để báo mình còn sống”, một sự sống nhọc nhằn lao động thơ ở thì hiện tại luôn chuyển động, luôn rạo rực, luôn muốn vùng vẫy vượt qua, chính ngay ở cả sức mình. Điển hình là tập thơ “Một gạch và chuyển động”. Thực ra mệnh đề “Một gạch” Thanh Quế đặt ra cũng đã là một sự sống, nhưng đấy là sự sống mặc định, một sự sống từ A đến B chỉ là thứ thước tấc đo thời gian, đến mệnh đề thứ hai “chuyển động” mới là tương quan tạo nên ý nghĩa thời gian, và chính đó mới đúng nghĩa là sự sống của thơ, của nghệ thuật trong ý niệm “cây đời mãi mãi xanh tươi”. Đọc tất cả bài thơ của Thanh Quế trong tập mới về sau, hay tự anh làm tuyển, không phải bài nào cũng đạt được nỗi khát khao ấy. Thậm chí có khi liều lĩnh đơn giản hóa thành “công thức ý tưởng”. Song vượt lên tất cả là hiệu quả nghệ thuật. Sức sống của bản thân thơ Thanh Quế là đòi hỏi ở sự tiếp nhận, không hề có sự cảm tính nào, mà phải tư duy cùng tác giả, trăn trở cùng tác giả, để xác định đúng đắn những thẩm giá của thơ, gợi mở ra những nguồn mỹ cảm không hồi kết thúc.

Suy tư, trăn trở là những cảm xúc có thực trong đời sống nội tại của Thanh Quế để rồi qua thơ, anh mang đến cho người đọc sự tác động dây chuyền. Và, khác với cái lẽ thường nghiệm, người ta thường yên lòng với hoàng hôn tuổi tác, còn Thanh Quế dường như muốn phơi mở ra cho mình, tự cổ động mình, rằng phải chuyển động, phải vỗ mặt thời gian cho cháy sáng lên những đóa hoa thơ...

 NGUYỄN NHÃ TIÊN