Thơ Nguyễn Tấn Thái và cảm thức độc hành

PHAN VĂN MINH |

Tôi cũng như nhiều bạn bè khác, sau khi gặp Nguyễn Tấn Thái vài ba lần đều có chung một cảm nhận về con người này: Hình như đối với anh, thơ và chỉ có thơ mới là thứ quan trọng nhất trên đời. Bởi ngoài công việc dạy học như một cách trả nợ áo cơm, có lẽ phần thời gian và tâm thế nhân sinh còn lại của anh đều dành hết cho “công cuộc” tìm, đợi và đón... thơ. Người ta thường thấy Nguyễn Tấn Thái  trên chiếc xe cà tàng, một mình rong ruổi khắp nẻo quê để tìm bạn thơ. Anh có thể bỏ ra nhiều ngày vào tận Nam Trung bộ hoặc Tây Nguyên chỉ để đọc thơ, nghe thơ và cảm tác vài câu ngẫu hứng. Còn nơi căn nhà trọ của anh ở Bình Đào, Thăng Bình, cứ dăm ba bữa lại có vài “khách thơ” từ phương xa ghé đến thù tạc với thơ. Nhìn gương mặt anh lúc thì đăm chiêu, nhàu nhĩ nỗi đau... thơ, khi thì hăm hở hoan lạc trong cuộc tung hứng... thơ, tôi cứ nghĩ anh... đầu thai nhầm thời đại.

Với Nguyễn Tấn Thái, thơ là đền thiêng, là nơi cất giữ “Xá lợi” của ngôn từ hàng ngàn năm xưa vẫn đang chờ ngày tỏa sáng, và anh là một tín đồ sùng đạo  trong cuộc hành hương đi tìm đất thánh:

Xin ngưỡng phục trước đền thơ
Ngọc cổ điển vẫn hẹn giờ hiển linh
Ngút thơm biêng biếc bình minh
Thơ kiều diễm chạm khối hình      đài sen
Nguyện dâng nhụy nõn hương trăng
Chất tinh thể gởi vĩnh hằng ngàn sau...

(Tôn giáo thi nhân)

Nhưng đó là thơ của THƠ, là thứ chỉ để chiêm bái ngưỡng vọng từ nơi vô cực tâm thức chứ không chắc ai đã chạm tới, và cũng không chắc trong đền thiêng ấy có... hạt xá lợi nào. Còn về phần mình, Thái vẫn khiêm tốn tự nhận là một gã hành khất... thơ, một kẻ “chân đầu phố bóng cuối làng” (Chữ thơ Đỗ Văn Khoái), lang thang tìm... “bố thí” từ những “huyễn tượng thơ”, mà đôi khi thứ săn nhặt được lại trở nên bi hài:

Con nắng chạy quanh sưởi lòng ấm lạnh
Em hoài thai quán lệch ven đường
Biên ải chiều tha hương hội ngộ
Siêu độ hồn lăng mộ xa xanh
Nguyện làm người bão gió thơ anh
Đêm phố Hội ngạo cười anh ngu ngốc
Em thả trăng loang tràn đỉnh dốc
Hành khất buồn săn nhặt bóng đêm...

(Hành khất Thơ)

“Em” là hiển hình từ “Thơ” hay “Thơ” đã hiển ngôn trong “Em”? Nhưng rõ là cả hai đã trêu ngươi gã hành khất thơ bằng một thứ trò chơi... “tập tầm vông, tay nào không tay nào có...”.  “Em” và “Thơ” vẫn nằm khoe phồn sinh trên đỉnh trăng tráng lệ, còn gã nhà thơ thường chỉ nhận ra mình bị... mắc lỡm sau khi đã cuồng mê và tận hiến. Cảm thức hụt hẫng giữa “có” và “không”, giữa “thực” và “hư” dường như luôn ám ảnh Nguyễn Tấn Thái ngay khi đi giữa phố đông:

Đường chiều bắt bóng thả câu
Chợt nghe phố rỗng chảy sâu trong hồn
Đêm hoang phiếu hốt đèn hồng
Quờ tay chạm khoảng trống không... rợn người.

(Phố rỗng)

Rồi theo cả vào trong giấc hoang:

Khuya sờ soạng giấc mơ tôi
Sừng sững bóng và... dáng ngôi  tháp Hời
Sông Ngân trắng rợn khoảng trời
Gối khuya quánh đặc rặt lời cổ sơ...

(Giấc mơ xuân)

Có thể hình dung trong thơ cũng như trong cuộc đời thật, Nguyễn Tấn Thái luôn bị thôi thúc trong một cuộc kiếm tìm bất tận. Ngoài “đền thiêng đất thánh” đang lưu giữ những “xá lợi” thơ ra, gã còn tìm lại những viễn tượng trong veo về tình yêu trong kí ức:

... Chào em quay lại hoang đường
Và nơi ấy cỏ ướp hương tặng người
Hồn nhiên trong trẻo tiếng cười
Mắt tàn úa chợt trổ mười dương quang
Xa em tìm lại địa đàng
Đã quên lãng suốt mấy ngàn đêm thâu...

(Nguyện ca)

Hay về một dòng sông xưa từng tắm gội tuổi thơ:

Dòng sông... ngọt thắm dòng sông
Mái chèo khua đẩy mênh mông vào chiều
Bờ khuya hái ngọn tiêu điều
Thầm nghe triền sóng lệch xiêu dỗi hờn...

(Trường Giang)

Và trong cuộc “hành hương thơ”, đôi khi gã nghĩ mình đã trùng ngộ được tri âm để rồi thở dài xót xa:

... Đêm khát thèm tri kỷ
Tôi nhặt nhầm tay tôi.

(Đêm... và...)

Cũng như những “con chiên thơ” khác xưa nay, vốn biết duyên nợ cùng thơ là một cuộc chơi “ú tim” bất tận, nhưng Thái vẫn cần mẫn đào bới, săn nhặt, chưng cất như một nhà... giả kim thuật bạc đầu bởi một lời nguyền vô định:

... Mười năm chưng cất giấc mơ
Mười xuân ủ nắng ven bờ Trường Giang
Mười năm nấu chảy đá vàng
Tôi hái lượm chỉ một bàn tay thô...

(Giấc mơ xuân)

Rồi Thái tự biện minh, tự vỗ về mình rằng dù sao cũng có đã một loài hoa được tái sinh từ hạt... phong trần, bởi không nhân nào không đem lại quả:

Lật kỉ niệm tìm hồn nhiên
Đóa hoa nguyên thủy nở triền thung xưa
Mười năm hong lạnh gió mưa
Niềm chai sạn cũng đủ vừa trổ bông...

(Ước nguyện dòng sông)

Được như thế cũng là một câu trả lời về cứu cánh của niềm đam mê, của những bước độc hành về phía Thơ và cái Đẹp.

PHAN VĂN MINH