Từ cồng chiêng đến tượng đồng nghệ thuật!

TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG |

“Bảo Đại nhị niên, ngũ nguyệt, kiết nhật tường
Phong cửu phẩm Đội trưởng Dương Ngọc Thuyên
Làng Phước Kiều, An Nhơn tổng, Diên Phước huyện, Quảng Nam tỉnh”

Đó là bức trướng mừng Thọ Quan của vua Bảo Đại tặng cho cụ đội trưởng Dương Ngọc Thuyên, nhân dịp cụ thượng thọ 100 tuổi, được treo tại nhà thờ phái 3 tộc Dương Ngọc tại làng đúc đồng Phước Kiều.    

Dương Ngọc Tiển bên tượng “Đôi mắt”.
Dương Ngọc Tiển bên tượng “Đôi mắt”.

Từ bức trướng có giá trị lịch sử còn được lưu giữ này, chúng tôi và nhà điêu khắc Nguyễn Văn Huy đã gặp nhau ở ý tưởng: Còn có thể biết được thêm bao điều cũ và mới của làng nghề có hơn 400 năm tuổi này, trong đó có những chi tiết liên quan đến cồng chiêng Tây Nguyên, mà nay được công nhận là một di sản văn hóa mang tên “Không gian văn hóa cồng chiêng” và một hướng đi khác mà Huy đang mang đến cùng Phước Kiều…

Từ cái “duyên” với cồng chiêng

“Cụ Thuyên là đời thứ 9, thuộc phái 3 của tộc Dương Ngọc làng Phước Kiều. Với tay nghề đúc đồng điêu luyện, cụ được mời ra kinh đô chỉ huy đúc các loại khí cụ và vật dụng cho triều đình…”, nghệ nhân Dương Ngọc Tiển, gọi cụ bằng cố nội, kể. Từ truyền thống đúc đồng nhiều đời từ các chúa Nguyễn, cố Thuyên khi ra kinh đã có cơ hội ra Ái Tử chánh dinh và giao tiếp với người Vân Kiều, Pa Cô ở Cam Lộ và sau này đã nhận đúc các loại chiêng - giống thanh la của người Kinh, cho họ. Đến đời ông nội là Dương Ngọc Tiếp, cha là Dương Ngọc Thám tiếp tục phát triển nghề này với các kỹ thuật đúc các bộ chiêng ba, chiêng túc cho người dân tộc H’Rê. Chiêng túc có âm vang xa là chiêng chính mà không phải ai cũng lấy được âm. Mười người làm loại chiêng này ở Phước Kiều có thể thất bại đến 9 chỉ vì khả năng lấy âm, chỉnh âm. Từ chiêng túc, cụ Thám đã đến với các làng dân tộc Raglei, Mơ nông, K’Hor ở các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Tây Nguyên với các bộ Vỗ nổi tiếng trước những năm 60 của thế kỷ trước…

Cái “duyên” và những bí quyết với cồng chiêng được Dương Ngọc Tiển kế nghiệp. Từ những năm 1982, Tiển mang chiêng truyền thống của gia đình đến các buôn làng Tây Nguyên để đổi “bạc bà đầm”, loại tiền có trữ lượng bạc trên 90% cần thiết cho kỹ thuật đúc chiêng và sau đó thực hiện nhiều hợp đồng sản xuất. Từ khi chuyên sâu vào công việc đúc cồng chiêng, Tiển và các đồng sự trong cơ sở của anh đã chế tác hơn 300 bộ (khoảng 2.000 cái) cồng chiêng cho Tây Nguyên. Các bộ cồng chiêng mẫu của đồng bào Raglei trưng bày tại Khu di tích và danh thắng tỉnh Ninh Thuận, khu di tích lịch sử văn hóa Đền Đô tỉnh Bắc Ninh, các mẫu cồng chiêng sử dụng cho giảng dạy tại Trung tâm văn hóa - thông tin các huyện thuộc các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đắk Nông, và bộ cồng chiêng M’Nông được lưu trữ tại Phòng trưng bày di sản phi vật thể của Viện văn hóa – nghệ thuật (Bộ VH-TT và DL).
Trong “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”, Dương Ngọc Tiển cho biết hai phần ba khí cụ đều được sản xuất tại làng đúc Phước Kiều. anh cũng soạn tài liệu “Quy trình chế tác cồng chiêng” nhằm góp phần bảo tồn nghề đúc cồng chiêng cho làng nghề và từ sau năm 2005 đến nay làng Phước Kiều đã có các hợp đồng chế tác cồng chiêng cho các “Đề án bảo tồn và phát huy giá trị của di sản cồng chiêng Tây Nguyên”.

Đến chuông, tượng

Nguy cơ mai một của làng đúc đồng Phước Kiều đã hiển hiện do đầu ra sản phẩm ngày mỗi ít. Cả làng chỉ còn năm bảy hộ còn giữ được lò và sản xuất cầm chừng. Các nghệ nhân lớn tuổi sức khỏe kém dần, thợ trẻ chưa dám nhận những hợp đồng phức tạp. Làng nghề có các điểm bán hàng, nhưng đa số là sản phẩm của nơi khác đưa về. Ngay đến truyền thống đúc cồng chiêng, cả làng chỉ còn 4 nghệ nhân có năng lực, nhưng đã có 2 người trên 75 tuổi và lớp kế thừa lại rất mỏng! “Để tìm sự công bằng cho làng đúc Phước Kiều”, thế hệ các nghệ nhân trung niên đã mạnh dạn nghiên cứu và nhận thực hiện nhiều hợp đồng thi công một quả chuông 300kg cho Tu viện Vĩnh Minh (Đức Trọng, Lâm Đồng), chuông 500kg cho chùa Long Tuyền - Hội An, qua đó đã mở ra cho tuổi trẻ Phước Kiều nghề đúc đại hồng chung, đúc trống đồng Đông Sơn nhân hội nghị APEC vào năm 2007, đại hồng chung nặng 1 tấn mừng 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội...

Từ đại hồng chung, nhiều lò đúc Phước Kiều lại tiếp tục đỏ lửa nhờ vào tâm huyết dám nghĩ dám làm của lớp nghệ nhân chết sống với nghề và một lòng gìn giữ cái danh của làng... Và cơ hội lại đến với hàng loạt tượng nghệ thuật, tương danh nhân ra đời ở Phước Kiều với độ phức tạp ngày càng cao về tạo hình và ý nghĩa xã hội... Các hậu duệ của tộc Dương Ngọc lại lao vào cuộc với các tượng nghệ thuật Đôi mắt (cao 1,6m, Giải thưởng mỹ thuật toàn quốc), tượng các danh nhân, các nhà cách mạng Lê Cơ, Hồ Nghinh, Võ Chí Công, Trần Cao Vân, Văn Thị Thừa, Lê Quang Sung... và sắp tới là tượng anh hùng Nguyễn Văn Trỗi.

“Đúc các tượng nghệ thuật, danh nhân là rất khó, nhưng đó cũng là hướng đi mới để vực dậy làng nghề vào lúc này. Và tôi nghĩ với tay nghề, kiến thức và nhiệt tâm của nghệ nhân Dương Ngọc Tiển cùng các đồng nghiệp ở Phước Kiều, tôi tin là sự hợp tác của chúng tôi sẽ rất có ý nghĩa...” - nhà điêu khắc Nguyễn Văn Huy khẳng định hôm khánh thành tượng chí sĩ Lê Cơ...

TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG