Borobudur xứ sở tượng đá và những công trình kiến trúc cổ

;
Thứ Hai, 29/05/2006, 09:30 [GMT+7]

Mặc dù phải hứng chịu nhiều trận động đất kinh hoàng nhưng Borobudur ngày nay vẫn còn lưu lại những vẻ đẹp nguyên thủy của một thành phố cổ ra đời cách đây hơn 1.000, năm khi vương quốc Srrivijayan và những vùng lân cận được coi là trung tâm văn  hóa  Hindu lớn nhất của khu vực thịnh thành, ảnh hưởng tương đối lâu dài trong tiến trình phát triển văn hóa chung của người Java. Các kiến trúc văn  hóa  ở Borobudur là di sản của nền văn  hóa  Ấn Độ được du nhập vào Indonesia từ những năm đầu của thế kỷ thứ VIII. Với chiều dài chỉ 5 km, nhưng Borobudur lại có tới   hơn  30 công trình lớn nhỏ khác nhau, dấu ấn của sự phát triển cực thịnh khi triều đại Sailendra trị vì trong suốt hai thế kỷ VIII  và IX, chính thức tan rã vào năm 856. Từ đây Borobudur đã bị lãng quên cho đến khi một thống đốc người Anh tên là Stamford Raffles đến nhận chức ở Java cùng với một kỹ sư người Hà Lan, người có công  tìm ra Singapore sau này, tên là H.C Cornelius, phát hiện ra năm 1814. 

Trải qua thời gian,  Borobudur đã bị xâm thực, tàn phá nặng nề bởi nắng mưa và cả bàn tay của con người ; nhiều bức tượng đá quý đã bị tháo gỡ đưa ra nước ngoài hay sử dụng cho mục đích riêng. Năm 1968, Chính phủ Indonesia và tổ chức UNESCO đã tiến hành một chiến dịch trùng tu, sau hơn 15 năm liên tục với nhiều chuyên gia của 27 quốc gia làm việc miệt mài, Borobudur đã được phục hồi trở lại. Đây cũng là công trình thử nghiệm dùng kỹ thuật phục chế mới nhất, tiên tiến nhất  dành riêng cho các công trình bằng đá do Liên  hợp quốc  thực hiện trước khi được công nhận là di sản thế giới vào năm 1991.
Borobudur cách Yogyakarta 40 km về phía tây bắc, giữa cánh đồng lúa nước trù phú,  vì vậy  được  nhân dân địa phương ví là Candi Borobudur có nghĩa là Đền Borobudur trong tiếng Bahasa. Ngoài đền chính  còn có hai đền phụ khác là Candi Mendut và Candi Pawon đều được xây dựng cùng thời với Borobudur, được nối dài từ kiến trúc chính  Borobudur sang phía đông và phía tây. Tương truyền, hai đền nhỏ này được xây dựng để làm nơi tẩy rửa lỗi lầm trước khi đi vào đền chính.Trong một cuốn sách có tên là Yogyakarta, tác giả Jeremy Allan đã gọi Borobudur là ngôi đền thờ Phật lớn nhất do con người xây dựng ở phía nam bán cầu.  Ngôi đền này có chiều cao 34,5 mét, được làm từ 56.630 m3 đá bao quanh một khu đồi nhỏ, sử dụng ước khoảng 30.000 nghệ nhân và hơn 15.000 dụng cụ chạm, đồ nghề khác ; riêng việc gia công 1,3 triệu khối đá để tạo ra công trình đồ sộ này cũng mất khoảng gần nửa thế kỷ. Một ấn tượng độc đáo khác về các bức tượng đá được xây dựng tại  Borobudur (gọi theo tiếng Sanskrit là Stupa)  là tất cả đều  có kiến trúc móng hình tháp, có các bậc tam cấp hình vòng đồng tâm, tạo nên kiến trúc hoành tráng, uy nghiêm và bề thế, từ dưới móng đi tiếp lên một toà nhà lớn gọi là gallery trong đó có chứa hơn  3.000 bức họa khắc trên đá mô tả những nét chính trong cuộc đời của đức Phật. Gallery được nâng đỡ bởi 432 cột, mỗi cột là một bức tượng Phật, tiếp sau gallery là hành lang tròn, nơi có tới 72 bức tượng Stupa mỗi bức tượng đều có tay vươn ra thể hiện cảm xúc riêng.

Du khách tới thăm Borobudur quanh năm nhưng sôi động nhất là rằm tháng 5 (Waisak) - đây là thời điểm mà người ta tin rằng là dịp để những tượng đài, công trình này sống trở lại. Lễ hội Waisak không chỉ có ở Borobudur mà còn diễn ra tại nhiều nơi trong khu vực châu Á để tưởng nhớ đến đức Phật, riêng tại Indonesia được coi là ngày sinh của đức Phật, ngày nghỉ quốc gia. 

Sau gần 200 năm khám phá nhưng đến nay những tượng đá và những công trình kiến  trúc  cổ ở Borobudur  vẫn còn nhiều điều bí ẩn  mà con người chưa tường ; nhưng có một điều mà các học giả đều thống nhất là kiến trúc Borobudur ra đời  nhằm tôn  vinh các giai đoạn trong cuộc đời đức Phật,  giống như các công trình tương tự được xây cất tại Ấn Độ hoặc các công trình tương tự ra đời cách đây hàng nghìn năm tại khu vực châu Á.

Khắc Nam

.
.
.
.
.