Hỏi đáp chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (tiếp theo)

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM |

(QNO) - Hỏi: Trong trường hợp nào người lao động (NLĐ) không được giải quyết chế độ ốm đau?

Trả lời: Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29.12.2015 của Bộ LĐ-TB&XH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định không giải quyết chế độ ốm đau đối với các trường hợp sau:

- NLĐ bị ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo Danh mục ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19.7.2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất và Nghị định số 126/2015/NĐ-CP ngày 9.12.2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19.7.2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

- NLĐ nghỉ việc điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

- NLĐ bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động trong thời gian đang nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương theo quy định của pháp luật lao động; nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về BHXH.

Hỏi: Có phải pháp luật hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp có quy định về việc người sử dụng lao động (SDLĐ) được hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ? Để được hưởng cần đáp ứng điều kiện gì; mức hỗ trợ là bao nhiêu?

Trả lời: Vấn đề bạn đọc hỏi được quy định tại Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12.3.2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp.

Điều 3 nghị định này nêu rõ, người SDLĐ được hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ quy định tại Khoản 1 Điều 47 Luật Việc làm khi có đủ các điều kiện sau:

1. Đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 2 Điều 44 Luật Việc làm liên tục từ đủ 12 tháng trở lên tính đến tháng liền trước của tháng đề nghị hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ hoặc đến tháng của ngày đề nghị hỗ trợ kinh phí để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ nếu người SDLĐ đã đóng BH thất nghiệp của tháng đó.

2. Gặp khó khăn do suy giảm kinh tế hoặc vì lý do bất khả kháng buộc phải thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ sản xuất, kinh doanh và dẫn đến nguy cơ phải cắt giảm số lao động hiện có từ 30% hoặc từ 50 lao động trở lên đối với người SDLĐ có sử dụng từ 300 lao động trở xuống và từ 100 lao động trở lên đối với người SDLĐ có sử dụng trên 300 lao động, không kể lao động giao kết hợp đồng lao động với thời hạn dưới 3 tháng.

Những trường hợp được coi là bất khả kháng nêu trên, bao gồm: hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần, địch họa, dịch bệnh làm thiệt hại một phần hoặc toàn bộ cơ sở vật chất, thiết bị, máy móc, nhà xưởng có xác nhận của chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nơi người SDLĐ bị thiệt hại.

3. Không đủ kinh phí để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho NLĐ được xác định thông qua báo cáo sản xuất, kinh doanh của năm trước thời điểm đề nghị hỗ trợ mà bị lỗ có xác nhận của cơ quan thuế.

4. Có phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và duy trì việc làm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Mức hỗ trợ được quy định tại Điều 4. Theo đó:

1. Mức hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề tối đa 1 triệu đồng/người/tháng. Mức hỗ trợ cụ thể được tính theo tháng, thời gian học thực tế của từng nghề hoặc từng khóa học nhưng không quá 6 tháng.

Trường hợp khóa học nghề có những ngày lẻ không đủ tháng thì được tính theo nguyên tắc: Dưới 15 ngày tính là 1/2 tháng, từ đủ 15 ngày trở lên tính là 1 tháng để xác định mức hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ.

2. Đối với khóa đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề có mức chi phí cao hơn mức hỗ trợ theo quy định tại Khoản 1 điều này thì phần vượt quá mức hỗ trợ do người SDLĐ tự chi trả.

TAGS

Hỏi đáp chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (tiếp theo)

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM |

(QNO) - Hỏi: Tôi đang nghỉ chế độ thai sản đến 21.7.2020, tôi định xin nghỉ dưỡng sức thêm 10 ngày nữa do tôi mổ sinh đôi. Vậy tôi có cần làm giấy bệnh không hay chỉ nộp đơn xin nghỉ cho nơi làm việc?

Hỏi đáp chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (tiếp theo)

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM |

(QNO) - Hỏi: Hiện nay, những người nào có thể tham gia BHXH tự nguyện? Người tham gia phải đóng với mức đóng như thế nào và có thể đóng gộp 1 lần cho nhiều tháng không? Đóng đến khi nào thì mới được hưởng chế độ hưu?

Hỏi đáp chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (tiếp theo)

BẢO HIỂM XÃ HỘI QUẢNG NAM |

(QNO) - Hỏi: Tôi năm nay 58 tuổi, đóng BHXH được 23 năm, bị tai biến mạch máu não hiện điều trị ngoại trú nên không còn khả năng tiếp tục làm việc. Vậy muốn giám định sức khỏe để nghỉ hưu trước tuổi thì thủ tục như thế nào?

Hỏi đáp chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (tiếp theo)

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM |

(QNO) - Hỏi: Theo Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH), việc tạm dừng đóng BHXH bắt buộc đối với trường hợp đơn vị sử dụng lao động (SDLĐ) gặp khó khăn được thực hiện như thế nào? Có thể cho biết quy định cụ thể về vấn đề này?

Hỏi đáp chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (tiếp theo)

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM |

(QNO) - Hỏi: Trong trường hợp người lao động (NLĐ) bị tai nạn lao động (TNLĐ), bệnh nghề nghiệp (BNN), ngoài chế độ BHXH, có phải người sử dụng lao động (SDLĐ) phải thực hiện chế độ bồi thường đối với NLĐ bị TNLĐ?

Hỏi đáp chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (tiếp theo)

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM |

(QNO) - Hỏi: Cuối năm 2020, tôi đủ 60 tuổi, đã đóng BHXH 17 năm liên tục, vậy khi nghỉ hưu có được đóng bù 3 năm BHXH để được hưởng lương hưu hằng tháng không?