Tìm hiểu về thẻ Căn cước công dân

CHÂU NỮ |

Thượng tá Tô Dụng  - Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội  (PC64) - Công an tỉnh, cho biết: “Hiện nay trên cả nước chỉ có 16 địa phương (những địa phương trước đây đã triển khai thí điểm cấp Chứng minh nhân dân 12 số - NV) đảm bảo cơ sở kỹ thuật để cấp thẻ Căn cước công dân (CCCD) từ ngày 1.1.2016. Theo lộ trình, đến ngày 1.1.2020 việc cấp đổi thẻ CCCD phải được triển khai đồng loạt trên cả nước. Hiện tại, cơ quan chức năng ở Quảng Nam vẫn tổ chức cấp, đổi Chứng minh nhân dân (CMND) cho người dân như bình thường”. Theo Luật CCCD 2014 có hiệu lực từ ngày 1.1.2016, công dân sẽ được cấp thẻ căn cước thay vì cấp CMND như hiện nay. Tuy nhiên, CMND đã được cấp trước ngày 1.1.2016 vẫn còn giá trị sử dụng đến hết hạn theo quy định. Khi công dân có yêu cầu, sẽ được đổi sang thẻ CCCD.

Thượng tá Tô Dụng cũng chia sẻ những điểm mới của thẻ CCCD. Đó là, trong khi CMND có hạn sử dụng là 15 năm, thì sau khi cấp thẻ CCCD lần đầu, công dân phải đổi thẻ 3 lần, vào các năm 25 tuổi, 40 tuổi và 60 tuổi. Theo Luật CCCD, công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên được cấp thẻ CCCD. Công dân làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ CCCD tại công an nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh, Bộ Công an.

Thẻ CCCD gồm thông tin:  mặt trước thẻ có hình Quốc huy; dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc; dòng chữ “Căn cước công dân”; ảnh, số thẻ CCCD, họ, chữ đệm và tên khai sinh, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quốc tịch, quê quán, nơi thường trú; ngày, tháng, năm hết hạn.  Mặt sau thẻ có bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa; vân tay, đặc điểm nhân dạng của người được cấp thẻ; ngày, tháng, năm cấp thẻ; họ, chữ đệm và tên, chức danh, chữ ký của người cấp thẻ và dấu có hình Quốc huy của cơ quan cấp thẻ.
(Khoản 1 Điều 18 Luật Căn cước công dân)

Bộ Tài chính cũng quy định các trường hợp không phải nộp lệ phí khi làm thủ tục đổi, cấp thẻ CCCD. Bao gồm: công dân từ đủ 14 tuổi trở lên làm thủ tục cấp thẻ CCCD lần đầu; công dân đổi thẻ khi đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi; đổi thẻ khi có sai sót về thông tin trên thẻ do lỗi của cơ quan quản lý; công dân đã được cấp CMND 9 số và CMND 12 số nay chuyển sang cấp thẻ CCCD; đổi thẻ khi Nhà nước quy định thay đổi địa giới hành chính; đổi, cấp lại thẻ cho công dân là bố, mẹ, vợ, chồng, con dưới 18 tuổi của liệt sĩ; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; con dưới 18 tuổi của thương binh và người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh; công dân thuộc các xã, thị trấn vùng cao theo quy định của Ủy ban Dân tộc; công dân thuộc hộ nghèo theo quy định của pháp luật; đổi, cấp lại thẻ cho công dân dưới 18 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa. Các trường hợp khác khi đổi thẻ CCCD, phải nộp lệ phí 50 nghìn đồng/thẻ và khi cấp lại 70 nghìn đồng/thẻ. Công dân thường trú tại các xã, thị trấn miền núi; các xã biên giới; các huyện đảo nộp lệ phí bằng 50% mức nêu trên.

Thượng tá Tô Dụng thông tin thêm, theo quy định của Luật CCCD, người dân không cần xuất trình giấy khai sinh, sổ hộ khẩu nếu có thẻ CCCD. Thẻ CCCD là giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam có giá trị chứng minh về CCCD của người được cấp thẻ để thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời, thẻ cũng được sử dụng thay cho việc sử dụng hộ chiếu trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép công dân nước ký kết được sử dụng thẻ CCCD thay cho việc sử dụng hộ chiếu trên lãnh thổ của nhau.

CHÂU NỮ