Nhà ở của đồng bào miền núi cần bảo tồn các giá trị truyền thống

;
Thứ Năm, 22/06/2006, 10:09 [GMT+7]

HÀ ở của các dân tộc miền núi Quảng Nam và các dân tộc ở Trường Sơn - Tây Nguyên phần lớn là nhà sàn cách mặt đất từ một mét trở lên, có cầu thang lên xuống như nhà ở của dân tộc Cơtu, Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Tà Ôi, BaNa, Gia Rai, ÊĐê... Một số nơi có nhà nửa  sàn nửa trệt như nhà của người Mạ, M'nông... Loại hình kiến trúc này phù hợp với điều kiện địa hình, không gian, môi trường tự nhiên của miền núi. Tất cả vật liệu xây dựng đều tận dụng và khai thác từ thiên nhiên nơi họ cư trú. Vật liệu phổ biến là gỗ rừng, tre nứa, cỏ tranh, dây rừng... Với bàn tay khéo léo, đồng bào biết làm cho bền chắc và đẹp mắt những bộ phận của ngôi nhà từ bộ mái đến phần sàn nhà và các phần phụ khác. Các công trình kiến trúc dân gian đã tạo dấu ấn văn hóa truyền thống được lưu truyền qua bao thế hệ.

 
 Nhà ở của người Giẻ Triêng
Ngày nay, không gian cư trú, kiến trúc truyền thống, vật liệu xây dựng nhà ở của vùng đồng bào các dân tộc đã có nhiều thay đổi. Những năm gần đây do thực hiện định canh định cư, tái định cư để thực hiện các công trình giao thông, thủy  điện, đồng bào xây nhà bằng vật liệu mới, kiểu cách kiến trúc mới và trong nhà có nhiều tiện nghi mới. Tuy nhiên, hình ảnh ngôi nhà sàn truyền thống vẫn chưa thể phai nhòa  trong tâm trí họ. Như là để không bị dứt bỏ với truyền thống, đồng bào vẫn tự trở về với ngôi nhà sàn thân thương của mình. Bên cạnh ngôi nhà xây tường gạch vẫn ẩn bên sau hoặc kế cận với nó là ngôi nhà sàn hình mai rùa.  Đây  mới chính là nơi sinh hoạt ấm cúng của đồng bào từ ăn uống, sinh hoạt, trò chuyện và nơi ngủ cũng bên cạnh bếp lửa gia đình. Khác với trước đây, nhiều dân tộc cư trú trong ngôi nhà sàn dài mẫu hệ, nhiều bếp, nhiều hộ, thì hiện nay, loại hình nhà ở của các dân tộc phổ biến là nhà sàn ngắn của một gia đình phụ hệ, chỉ có một hoặc hai bếp. Tùy  theo chiều dài của căn nhà mà chia làm hai gian hoặc nhiều hơn.

Khi giao thông chưa được mở mang, các “trung tâm cụm xã” chưa xuất hiện, việc đi lại, giao lưu giữa các vùng rất khó khăn, đời sống của đồng bào chủ yếu dựa vào núi rừng, nương rẫy, theo hình thái tự cấp tự túc thì chưa có sự xáo trộn nhiều về bộ mặt của làng truyền thống. Tuy đời sống khó khăn, nhất là việc chưa được tiếp cận phương tiện của xã hội văn minh, hiện đại nhưng chính từ cuộc sống ấy đã giúp bảo lưu đậm đặc nhiều yếu tố văn hóa truyền thống, mang bản sắc riêng của từng tộc người. Ngày nay, khi có sự đầu tư của Nhà nước, giao thông được mở lên vùng cao, giao lưu, trao đổi hàng hóa  ngày càng mạnh hơn, đời sống của đồng bào được cải thiện một bước, xóa  bỏ dần thế biệt lập và nền kinh tế tự cấp tự túc. Do tác động nội tại qua nhu cầu muốn học hỏi, thay đổi nếp sống cũ và tác động của chính quyền trong việc thực hiện định canh định cư, tái định cư xây dựng các công trình giao thông, thủy  lợi, thủy  điện, kiên cố hóa nhà ở, xóa  bỏ những ngôi nhà tạm tranh, tre, nứa, lá... đã làm cho bản làng miền núi có nhiều thay đổi căn bản. Sự chuyển biến về điều kiện cư trú càng nhanh chóng hơn khi tỉnh thực hiện chủ trương xóa  nhà tạm, hỗ trợ nhà ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định 134/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ. Theo số liệu của Ban Dân tộc tỉnh, trong năm 2005, tỉnh đã thực hiện hỗ trợ làm nhà ở cho 11.092 hộ, 3 tháng đầu năm 2006 hỗ trợ cho 3.500 hộ và số hộ đăng ký xóa  nhà tạm tiếp tục tăng trong những năm đến.

Tuy nhiên, từ đây, những yếu tố ngoại lai bắt đầu chi phối đời sống tinh thần và vật chất của đồng bào ở các bản làng xa xôi. Xã hội cổ truyền đang biến đổi hết sức nhanh chóng cho nên kiện điều ăn ở, cư trú của đồng bào cũng phải thay đổi theo. Chẳng những các thôn bản nằm trên trục giao thông lớn bị biến dạng, “lạ hóa” mà các thôn bản vùng sâu vùng xa cũng đã và đang mất dần những yếu tố truyền thống. Kiến trúc là một trong những thay đổi rõ rệt nhất trên các vùng cao. Những ngôi nhà sàn đã bị “trệt hóa”, mái tranh mái nứa cũng bị “tôn hóa”.  Hậu quả là những loại hình kiến trúc truyền thống đã bị mất mát, mai một. Nhà mái tôn góp phần phá vỡ vẻ thơ mộng, mát mẻ vốn có của bản làng. Đó là chưa nói đến việc đồng bào phải thường xuyên chịu đựng cái nóng oi bức vào ban ngày và cái buốt giá của mùa đông do tác động của mái tôn.

Sự thay đổi là điều tất yếu, tuy nhiên thay đổi theo hướng bất lợi làm ảnh hưởng nhiều đến việc bảo tồn văn hóa truyền thống, kiến trúc xưa cổ của các dân tộc thì cần phải xem xét, có những giải pháp khắc phục. Nếu không nghiên cứu cẩn thận, hợp lý sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của đồng bào miền núi nhất là việc bảo tồn văn hóa truyền thống, giữ gìn môi trường sinh thái. Ngôi nhà sàn là sự lựa chọn lý tưởng của đồng bào để thích nghi với môi trường miền núi, chống lại thú dữ, ẩm thấp, khắc phục độ dốc... Chúng ta đã vận động và cấp xi măng, tôn, sắt thép cho  bà con làm nhà kiên cố, vô tình đã xóa  bỏ nhiều giá trị văn hóa được con người tích lũy, chọn lọc từ rất lâu đời.

 
 Nhà Moong của người Cơtu.
Nhiều năm gần đây, tỉnh đã hỗ trợ xây dựng nhà làng truyền thống và mang lại những thành công đáng phấn khởi. Đã đến lúc chúng ta cần quan tâm hơn đến kiến trúc nhà ở của đồng bào. Quy hoạch lại dân cư và bản làng của đồng bào phải phù hợp với tập quán, các quan hệ xã hội và tâm lý tộc người. Trong công tác xóa nhà tạm, không nên áp đặt kiên cố hóa, kinh hóa toàn bộ vật liệu, kiến trúc mà cần thiết giữ lại những giá trị truyền thống. Bà con thích ở nhà sàn thì cứ để họ ở nhà sàn, khuyến khích làm nhà sàn để thích ứng với những điều kiện về thiên nhiên, môi trường miền núi. Chúng ta hướng dẫn xây nhà kiên cố, sử dụng vật liệu mới hợp lý, đúng mức. Bên dưới nhà sàn không được dùng làm chỗ nuôi gia súc mà chỉ để nông cụ và đồ dùng gia đình. Cần tạo những mẫu nhà và mẫu quy hoạch làng phù hợp, lấy cái được, cái hay để thuyết phục đồng bào và chính quyền ở nông thôn, đồng thời tìm ra phương hướng cho chúng đi vào đời sống.

Thực hiện chính sách nhà ở cho đồng bào miền núi là một chủ trương đúng đắn, đầy tính nhân văn, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên,  cần  vận dụng, nghiên cứu và thực hiện một cách khoa học, hợp lý để bảo tồn những giá trị truyền thống trong kiến trúc nhà ở theo hướng phát triển bền vững,  không bị thoái hóa  về vật chất, tinh thần lẫn thẩm mỹ, phải giữ gìn cái hay cái đẹp, nét khác biệt trong lối ăn, cách ở của người miền núi, bởi vì, cái đẹp VH  phải là sự hài hòa  tổng thể chứ không thể là chắp ghép, phá vỡ tùy  tiện. Phá vỡ sự khác biệt chính là việc làm phản văn hóa.  Trong lĩnh vực văn hóa, không thể có sự thay thế, mà cần có sự giao thoa, thông hiểu để bảo tồn và phát triển. Đầu tư, hỗ trợ một cách áp đặt mà bỏ qua yếu tố văn hóa đang là một nguy cơ đối với việc giữ gìn, phát huy bản sắc các dân tộc Việt Nam.

Tấn Vịnh

.
.
.
.
.