Lai rai chữ nghĩa: Cò trắng, sương rơi

;
Chủ Nhật, 07/04/2019, 06:17 [GMT+7]

Vua Trần Nhân Tông là một biểu tượng hiếm hoi, không chỉ trong lịch sử dân tộc Việt Nam, mà còn hiếm hoi cả trong lịch sử nhân loại, khi dựng nên sự nghiệp bất tử trong cả cõi đời và cõi đạo. Đối với đời, đó là một vị anh hùng cứu nước, một vị vua hùng tài đã hai lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan quân Nguyên Mông, đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, dựng nên một thời đại Đông A lừng lẫy, sáng chói nhất trong lịch sử dân tộc. Đối với cõi đạo, ông là vị Sơ Tổ khai sáng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, một nỗ lực phi thường đưa Phật giáo Việt Nam thoát khỏi cái bóng phủ của Phật giáo Trung Hoa suốt năm trăm năm. Về điểm này, vai trò của vua Trần Nhân Tông đối với Phật giáo Việt Nam có thể được xem như vai trò của nhân vật Bồ Đề Đạt Ma huyền thoại đối với Phật giáo Trung Quốc.

Minh họa: HIỂN TRÍ
Minh họa: HIỂN TRÍ

Không chỉ thế, ông còn là một thi sĩ tao nhã với tâm hồn thanh khiết. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Thiên Trường vãn vọng (Đứng ngắm cảnh chiều ở Thiên Trường) của ông về cảnh làng quê Việt Nam bình dị nhưng lại đẹp như mơ, khiến  ta không khỏi liên tưởng đến một bức tranh thủy mặc:

Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lý quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi há điền.
(Tạm dịch:
Xóm thôn như có như không,
Chìm trong bóng nắng chiều lồng khói sương,
Trâu về, tiếng địch véo von,
Đôi cò trắng lượn xuống đồng lúa xa).

Hình ảnh con cò trắng bay trên đồng lúa hay đậu trên lưng trâu là những hình ảnh thanh bình và gây ấn tượng nhất đối với những ai từng lớn lên giữa đồng lúa chốn thôn quê.

...

Nhưng mới đây, chúng tôi đọc được một bài viết đăng trên Tạp chí Kiến thức ngày nay, có tựa “Trần Nhân Tông với nhữ Nhân”, ca ngợi hình ảnh con cò trắng lại suy diễn quá xa khiến người đọc không khỏi thấy bỡ ngỡ. Hai tác giả N.V.M. và H.V.T. đã viết trong bài này:

“Về quê ngắm cảnh chiều, Trần Nhân Tông làm thơ: “Mục đồng địch lý quy ngưu tận, Bạch lộ song song phi hạ điền”. Chúng tôi chưa dám bàn đến cái tài của nhà thơ Trần Nhân Tông khi ông dùng từ “bạch lộ song song” để viết về con cò trắng mà 500 năm trước Lý Bạch lại gọi là “sương trắng” (!). Hai tác giả còn trích dẫn thêm câu thơ minh họa “Bạch lộ thấp thanh đài” và dịch là “Sương trắng sà thấp xuống đám rêu xanh”!  

“Sương trắng” sau 500 năm lại nhờ thi ca mà biến thành “con cò trắng” quả là chuyện lạ bốn phương! Ở đây, ta lại gặp tình trạng “sai một ly đi một dặm” trong việc hiểu từ Hán Việt chỉ qua cách phiên âm.

“Con cò trắng” và “sương trắng” hiển nhiên đều là những hình ảnh thơ mộng trong thơ, và cùng được đọc là “bạch lộ” theo âm Hán Việt, nhưng giữa chúng lại hoàn toàn không có liên quan gì với nhau cả, vì cách viết và ý nghĩa khác hẳn nhau. Con cò trắng chỉ có thể là con cò trắng, và sương trắng dĩ nhiên cũng chỉ có thể là sương trắng, chứ không thể là cái gì khác. Chữ lộ (鷺) trong câu thơ Trần Nhân Tông được viết với bộ “điểu” và có nghĩa là “con cò”, cho nên “bạch lộ” đó đúng là “con cò trắng”. Còn chữ lộ (露) trong câu thơ Lý Bạch được viết với bộ “vũ” và có nghĩa là “hạt móc”, cho nên “bạch lộ” đó có nghĩa là “sương trắng” hoặc “móc trắng”. Các bản dịch xưa thường dịch “lộ” là “hạt móc”, còn sương (霜) vẫn được dùng theo nguyên âm Hán Việt và hiểu theo nghĩa “hạt sương”. “Bạch lộ” (móc trắng) là hình ảnh rất quen thuộc trong thơ Đường, dùng để chỉ cảnh tượng sương rơi lạnh lẽo về đêm.

Như vậy giữa “bạch lộ” của Lý Bạch và “bạch lộ” của Trần Nhân Tông hoàn toàn chẳng có một mối quan hệ cỏn con nào, ngoài cách đọc giống nhau theo âm Hán Việt. Vua Trần Nhân Tông, dù đã được tôn xưng là đấng Điều ngự Giác hoàng trong giới Thiền tông đời Trần đi nữa, thì ông cũng không thể có “cái tài” gì để biến đổi “hạt sương trắng” rơi trong thơ Lý Bạch 500 năm trước thành “con cò trắng” bay trên cánh đồng chiều ở Việt Nam vào 500 năm sau được cả!

...

Câu thơ “Bạch lộ thấp thanh đài” là câu cuối của bài thơ Ký viễn (Gửi người phương xa) nổi tiếng của Lý Bạch, nói lên nỗi lòng thương nhớ người đẹp ở phương xa, sau một thời gian đã lưu luyến quấn quít bên nhau. Đoạn cuối bài thơ đó như vầy:

Hương diệc cánh bất diệt
Nhân diệc cánh bất lai
Tương tư hoàng diệp tận
Bạch lộ thấp thanh đài.

(Tạm dịch:
Hương còn phảng phất đâu đây,
Người nơi phương đó biết ngày nào sang.
Nhớ nhau rụng hết lá vàng,
Để sương trắng ướt đẫm hàng rêu xanh
).

Có lẽ hai tác giả bài viết hiểu “bạch lộ” trong câu thơ Lý Bạch theo nghĩa “con cò trắng” nên suy diễn thêm rằng chữ “thấp” là “hạ xuống thấp”, do đó mới dịch câu thơ “Bạch lộ thấp thanh đài” là “Sương trắng sà thấp xuống đám rêu xanh”(!). Chữ “thấp” ở đây có nghĩa là “ẩm ướt; làm cho ẩm ướt”, mà ta gặp qua từ “ẩm thấp” quen thuộc trong tiếng Việt, dùng chỉ chỗ ẩm ướt, không khô ráo, chứ chẳng dính dáng gì đến chuyện hạ thấp xuống cả. Nếu để chỉ chuyện hạ thấp xuống thì tiếng Hán Việt lại dùng “hạ”, “trầm”, “lạc”... Cho nên, câu thơ đó của Lý Bạch có nghĩa là: “Sương trắng (rơi) ướt (đám/bãi) rêu xanh”. Chỉ vậy thôi.

...

Hiện tượng đồng âm dị nghĩa vẫn luôn tồn tại trong bất kỳ ngôn ngữ nào, đặc biệt là ngôn ngữ đơn âm như tiếng Trung Quốc hoặc tiếng Việt. Có lẽ các tác giả bài viết không chịu đọc những câu thơ trên trong nguyên tác, mà chỉ đọc qua bản phiên âm nên mới có cách hiểu và giải thích nhầm lẫn như vậy.
Bạch lộ của nhà thơ Lý Bạch cũng đẹp mà bạch lộ của vua Trần Nhân Tông cũng đẹp. Hãy cứ để bạch lộ của Lý Bạch rơi trên đám rêu xanh, và bạch lộ của Trần Nhân Tông từng đôi bay trên đồng lúa!

LIÊU HÂN

.
.
.
.
.