Tương tư lọ phải là...

;
Thứ Bảy, 20/04/2019, 12:41 [GMT+7]

Một trong những đặc điểm ngôn ngữ đặc biệt của Đường thi là việc các nhà thơ thường sử dụng lượng ngôn từ khá hữu hạn để tạo nên một số lượng thơ rất lớn (hơn bốn vạn tám trăm bài). Những tác phẩm càng độc đáo, nổi tiếng thì việc gặp gỡ trong sử dụng ngôn từ của các thi nhân càng cao. Và thật kỳ diệu, cùng một chữ ấy, nghĩa ấy nhưng mỗi bài thơ lại có khẩu khí riêng, âm hưởng hoàn toàn khác biệt.

“Nhân diện đào hoa tương ánh hồng”. (ảnh minh họa). Nguồn: Internet
“Nhân diện đào hoa tương ánh hồng”. (ảnh minh họa). Nguồn: Internet

1. Chữ tương (相) và tương tư (相思) trong thơ Đường là một ví dụ. Chỉ riêng với nghĩa “cùng” (từ điển Thiều Chửu) thì chữ tương xuất hiện trong Đường thi không biết bao nhiêu lần, mỗi lần lại chứa riêng một dáng vẻ, một tâm trạng, một thi vị.

Hạ Tri Chương vào cuối đời trên đường về quê đã ngẫu nhiên cảm tác (Hồi hương ngẫu thư) mà xứng bậc tứ sĩ thời sơ Đường:

Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi
Hương âm vô cải, mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiếu vấn, khách tòng hà xứ lai?

(Dịch nghĩa: Thuở nhỏ rời nhà, già mới quay về/ Giọng quê không đổi, tóc mai đã rụng/ Cùng gặp bọn trẻ cùng không biết nhau/ Trẻ cười hỏi bác từ đâu tới?).

Trong Đường thi đại từ điển - Giang Tô cổ tịch xuất bản xã, 1990, tr.712 mục Hồi hương ngẫu thư bình như sau: “Bài thơ này diệu ở chỗ văn chương khinh khoái, tả người xa quê lâu ngày về rất là chân thành, tha thiết, không cần vẽ vời, tình thú dào dạt… thực là tác phẩm thượng thừa trong thơ thất tuyệt đời Đường”.

Nói đến “giai cú” (câu đẹp) trong bài thơ này có lẽ một phần nhờ đến chữ “tương” vừa nhắc tới. Đặt trong bối cảnh đời sống mà phương tiện đi lại chỉ có ngựa hoặc thuyền của một kẻ lữ thứ giữa giang sơn rộng lớn, bao la đến nỗi thánh thi như Đỗ Phủ cuối đời đành chết trên đất khách mới thấy hết sự nôn nao trong tâm trạng của người hồi hương. Biên lại tâm tư ấy với Hạ Tri Chương là một cách ghi quá vội, thoắt buồn (ly gia) lại thoắt vui (lão đại hồi), thoắt vui (hương âm vô cải) lại thoắt buồn (mấn mao tồi)… Tương kiến bất tương thức (cùng nhìn thấy đó, cùng gặp gỡ đó mà người tóc bạc lẫn bọn ấu nhi cùng không biết nhau!). Câu thơ đẹp đến nao lòng!

Khác với văn học trung đại Việt Nam trung thành tuyệt đối với cái Ta thì Đường thi vẫn xuất hiện những câu chuyện tình đẹp như tranh thủy mặc. Đề đô thành Nam trang (Bài thơ đề ở thành đô phía Nam) của Thôi Hộ là một ví dụ:

Tích niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

(Dịch nghĩa: Ngày này năm ngoái tại cửa này/ Mặt người và hoa đào cùng soi nhau ánh hồng/ Người ấy nay không biết chốn nào/ Chỉ có hoa đào vẫn còn cười với gió đông).

Có bài thơ này là nhân tiết thanh minh, Thôi Hộ dạo chơi phía nam kinh đô Trường An. Chàng thấy có một vườn đào đang nở hoa rất đẹp, chàng đến gõ cổng nhà ấy xin nước uống. Người ra mở cổng là một thiếu nữ xinh đẹp. Màu hồng của hoa đào và màu hồng của khuôn mặt giai nhân đã làm chàng sửng sốt. Cả hai dường như đều cảm tài mạo của nhau. Uống nước xong, chàng cảm ơn ra đi và mang theo hình bóng ấy. Tiết thanh minh năm sau, chàng trở lại đào hoa trang hầu mong gặp lại người cũ nhưng không tìm thấy. Không nén được cảm xúc, chàng đã đề bài thơ lên cổng rồi ra đi. Nguyễn Du, dịch sát nghĩa hai câu thơ sau để tả tâm trạng chàng Kim khi quay trở lại vườn Thúy khi nàng đã sa chân vào con đường lưu lạc: Trước sau nào thấy bóng người/ Hoa đào năm cũ còn cười gió đông (dòng 2156 - 2157). Câu chuyện tình yêu của Thôi Hộ trở thành một điển tích trong thơ Đường mà bao nhiêu duyên ấy đều nhờ một chữ tương. Nếu không có vẻ đẹp trang nhã của đào hoa quyện vào nét thắm tươi của người thiếu nữ e ấp thì chàng si tình Thôi Hộ hẳn đã chẳng cảm khái viết được những câu lay động đến thế.

2. Nhưng chữ tương thường thấy nhất trong thơ Đường (cùng thường thông dụng trong thơ người Việt) và trở nên phổ biến hơn cả chính là kết hợp với chữ tư để thực tả một tâm trạng: nhớ nhau. Giải mã cho từ này có lẽ không thể không kể đến Tản Đà:

Quái lạ làm sao cứ nhớ nhau
Nhớ nhau đằng đẵng suốt đêm thâu
Bốn phương mây nước người đôi ngã
Hai chữ tương tư một gánh sầu.

Tản Đà tương tư. Nguyễn Bính tương tư. Vương Duy tương tư. Lý Bạch tương tư… và vô vàn những tương tư khác xuất hiện trong thi ca và đời sống. Văn học dân gian Việt Nam từ xa xưa cũng không xa lạ với tâm trạng này:

Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư
Ốm lăn ốm lóc nên sư trọc đầu…

Tương tư - nhất định phải cùng nhau nhớ. Nhớ đó phần lớn là tình luyến ái nam nữ (Tương tư hoàng diệp tận/ Bạch lộ thấp thanh đài - Nhớ nhau rụng hết lá vàng/ Để sương trắng ướt đẫm hàng rêu xanh - Lý Bạch) nhưng cũng có những không gian khoáng đạt để người làm thơ tương tư cùng bằng hữu:

Tương tư lọ phải là trai gái
Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng
(Trần Tế Xương).

Trong quá trình giữ gìn và phát triển ngôn ngữ, tiếng Việt vẫn phổ biến song hành cả tương tư lẫn nhớ nhau. Nhưng việc lẫn lộn giữa nhớ (tư) đơn phương - người này nhớ người kia và cùng nhau nhớ (tương tư), cùng nhớ nhau, dường như ngày càng phổ biến. Một người nhớ thì nhất định chưa thể là tương tư. Sư ốm lăn lóc là do cô yếm thắm bỏ bùa, chứ cả ba cô đội gạo lên chùa chẳng có mảy may tình ý gì thì ắt hẳn sư không thể nào lâm trọng bệnh!

Vì vậy tuy Nguyễn Bính thật danh nổi như cồn với bài thơ Tương tư khi chạm đến những câu thơ tuyệt đẹp:

Gió mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng
Nhưng dù chàng có bao nhiêu thở than kể lể thì tồn nghi trong người viết vẫn dâng đầy khi chính chàng cũng băn khoăn tự hỏi:
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

Thực chàng đà biết đến tương tư?!

NGUYỄN THỊ THANH THẢO

 

.
.
.
.
.