Góc phố nơi anh hẹn

;
Thứ Bảy, 18/05/2019, 09:13 [GMT+7]

Đôi lúc tôi cao hứng gọi góc quán cà phê ngồi mỗi sáng là “tuyệt tình cốc”, chỉ vì yêu thích không gian tĩnh lặng. Nhưng chút tình cảm ấy không là gì cả, nếu so với lời nhạc tha thiết về một góc phố Hà Nội và ồn ào phố xá Sài thành trên trang văn…

Một góc riêng của những người thích tĩnh lặng.Ảnh: H.X.H
Một góc riêng của những người thích tĩnh lặng.Ảnh: H.X.H

1. “Góc phố nơi anh hẹn/ Cành ngọc lan xòa bóng mát/ Tỏa hương bát ngát/ Báo với em ngày cuối thu buồn…”. Ca khúc “Hương ngọc lan” của nhạc sĩ Anh Quân như thủ thỉ về một góc phố nào đó ngoài Hà Nội. Có một chút sâu lắng của tình yêu trai gái.

Nét nhạc ấy không chỉ gợi cho tôi chút hình dung về góc phố hò hẹn, mà nhắc nhớ về nguồn cảm xúc trên trang văn, cũng về phố. Đó là những gì nhà văn Nguyễn Nhật Ánh từng gọi tên, khi ông viết về ngổn ngang phố xá Sài Gòn.

Với tạp văn “Ngổn ngang phố xá” đăng báo từ năm 1993 (sau này đăng chung trong tập “Người Quảng đi ăn mì Quảng”), nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã cắt nghĩa về sự khô cứng, đơn điệu, thiếu quyến rũ của phố. Ông tinh tế nhận ra nhân vật trên phim dường như ngày càng… ít dạo phố, có chăng là ra khỏi nhà, chạy tới chạy lui, để đi đâu đó chứ không phải đi dạo. Nhân vật trong tiểu thuyết cũng vậy, mải mê hành động, mải mê suy tư và chẳng đào đâu ra thì giờ để nhìn đường ngắm phố. Ngay cả những người thật việc thật ngoài đời, theo nhà văn gốc Quảng, nào đã khá hơn khi thành phố đã biến thành siêu thị, chỉ thu hút khách mua sắm chứ không quyến rũ kẻ dạo chơi.

“Thành phố như một cô gái, giàu lên nhưng đã kém duyên”, Nguyễn Nhật Ánh ví von. Ông so sánh rất hay, rằng lãnh đạm với nơi ta ở xét ra cũng bạc tình khác nào hờ hững với người ta yêu… Thế đấy, không phải thành phố sầm uất nào cũng tìm được những góc phố hò hẹn với sực nức hương ngọc lan.

2. Có một góc phố nhỏ ở Đà Nẵng, dù không da diết như trong nhạc Anh Quân, cũng không quá “bi thiết” như mô tả của nhà văn họ Nguyễn ở phố thị miền Nam, nhưng lại gần gũi.

“Tuyệt tình cốc” là cách tôi gọi tên không gian bình dị đó. Thực ra, cách gọi ấy chưa hẳn đã đúng. Bạn bè cũng không “nhìn” ra có chút dính líu nào giữa cảnh thực và tên gọi.

Bởi như nhiều người vẫn nhớ, địa danh “tuyệt tình cốc” từng xuất hiện trong truyện kiếm hiệp Kim Dung và gợi nhắc những chuyện u ám, buồn đau, tội lỗi. Đó là khe núi mang tên “Tuyệt tình” được nhắc đến ở bộ “Thần điêu hiệp lữ”. Nơi ấy, Công Tôn Chỉ đã cắt gân vợ mình (Cừu Thiên Xích) rồi quẳng xuống giếng sâu, sát hại cả người tình (Nhu Nhi) khi vợ biết chuyện cả hai có tình ý với nhau, lại rắp tâm định hại đời Tiểu Long Nữ… Ngay đến “tình hoa”, loài cây mang tên mỹ miều, nhưng chất độc thì khủng khiếp.

Biết là vậy, nhưng tôi vẫn gọi theo cách mà nhóm tác gia Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trịnh Công Sơn... từng một lần đặt tên cho không gian tịch lặng ở Huế. Sau này nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường có đôi lần nhắc lại. Ông Bửu Ý cũng từng nói rõ hơn trong một bài viết về Trịnh Công Sơn, rằng ở Huế, sinh viên thanh niên tranh đấu có nơi gặp mặt riêng mệnh danh là “Tuyệt tình cốc”. Chuyện từ năm 1964, và theo tác giả Bửu Ý, đây là giai đoạn họ Trịnh sáng tác ca khúc “Gọi tên bốn mùa”.

Tôi có chút cảm tình với cà phê “tuyệt tình cốc”, bởi quán sơn màu vàng sậm gợi nhớ cà phê Tổng hội (Huế) từ nhiều năm trước, vật dụng bài trí bên trong theo lối hoài niệm với máy đánh chữ, chạn gỗ cũ, mũ nón, bàn may… Nhưng không gian nhỏ tại Đà Nẵng còn được yêu thích bởi duyên cớ riêng. Có người từng ngồi bên dưới im lặng nhìn lên các khối nhà vây kín con hẻm, thấy cuộc sống nhẹ tênh. Có người không ưa sự náo nhiệt và bụi bặm ngoài “mặt tiền”, càng thích chí. Song chừng đó là chưa đủ, vì loanh quanh cũng chỉ gói gọn trong không gian của một quán cà phê. Cái tôi muốn gọi tên chính là không gian tiếp giáp, ở phía trước, bên ngoài quán: Không gian chung của xóm nhỏ trong hẻm.

Vốn dĩ có biệt thự rộng lớn mở ra hướng đường Trần Quý Cáp (quận Hải Châu) bây giờ. Theo thời gian, biệt thự cũ ấy không còn, các khối nhà “lấn” dần và được phân lô, xây cao ngất. Cho đến một ngày, chỉ còn con hẻm chừng 50 mét dẫn vào “xóm” nhỏ, đếm kỹ có 5 căn hộ. Cả 5 căn hộ ấy quay hướng ra khoảnh sân chung, rộng chừng 50 mét vuông. Trong khoảnh sân chung ấy, quán cà phê nhỏ đang sử dụng làm chỗ dựng xe cho khách. Hôm kia, tôi ngoắc chủ quán trẻ lại hỏi thăm, khoảnh sân nhỏ ấy đã từng xảy ra “va chạm” nào giữa các hộ chưa, nhất là khi quán cà phê chiếm tiện nghi nhiều hơn? Chủ quán bảo, chưa từng.

Chưa từng có “lời qua tiếng lại” giữa các hộ cư ngụ bên trong hẻm nhỏ ấy, bạn có tin không? Tuyệt tình, ở đây với một chữ “tuyệt” thôi, đã không mang nghĩa của đứt, dứt hết, cạn hết, tiêu diệt… mà cần hiểu theo nghĩa khác nữa, “có một không hai”.

3. Sực nhớ những ngả đường, góc phố thân thiết ở Tam Kỳ. Có bao nhiêu góc phố là bấy nhiêu sở thích, góc nhìn, và cả nỗi nhớ nhung. Bởi ở đó, mỗi người chọn cho mình một chỗ riêng, một lý do riêng để nhìn ngắm.

Đôi khi, lại thấy ai đó như vừa nhận ra phố của mình có chuyện lạ và reo lên. Đại loại, sáng nay sưa vàng một góc trời, chiều qua lộc vừng đỏ cả lối đi... Vậy thì xin mừng cho bạn. Bạn đã chịu quan sát từng chỗ mình ngồi, chịu nhìn những con phố mình đang qua, chứ phố không chỉ là “trục lộ giao thông thuần túy để đưa con người đi từ nơi này đến nơi khác” như cách mà nhà văn Nguyễn Nhật Ánh từng hình dung.

Tôi vừa tình cờ đọc được bài thơ về hẻm phố, mù sương, ký ức mà một nhà thơ quen biết (đang cư ngụ Tam Kỳ) đăng trên mạng xã hội. Không biết có phải anh ngỏ ý da diết với phố xá Tam Kỳ không, nhưng tôi tin những tâm sự ấy sẽ khiến người cùng trường suy tư thấy gần hơn với phố của mình…

Bởi họ đã, hoặc sẽ, có góc phố riêng để ngồi.

HỨA XUYÊN HUỲNH
 

.
.
.
.
.