Còn mãi "Ngày xưa"...

;
Thứ Bảy, 17/12/2016, 12:29 [GMT+7]

Mỗi lần nhớ đến Nguyễn Nhược Pháp, hẳn phần lớn chúng ta lại nhớ đến tập thơ Ngày xưa (1935) của ông, với vỏn vẹn 10 bài thơ, trong đó có bài “Chùa Hương” nổi tiếng. Mặc dù theo Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh – Hoài Chân: “Nguyễn Nhược Pháp ngoài thơ có viết nhiều truyện ngắn và kịch, thế nhưng, chỉ với 10 bài đã đủ khiến Nguyễn Nhược Pháp dành được một vị trí xứng đáng trong làng Thơ Mới”.

Chân dung nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp do Tam Xuyên vẽ.
Chân dung nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp do Tam Xuyên vẽ.

Nguyễn Nhược Pháp là con trai thứ của học giả, dịch giả, nhà báo lừng danh Nguyễn Văn Vĩnh và là em nhà thơ Nguyễn Giang. Ông sinh năm 1914 tại Hà Nội, mất năm 1938, hưởng dương 24 tuổi. Ông làm thơ từ năm 18 tuổi. Tác phẩm đã đăng trên các báo Annam nouveau, Tinh hoa, Đông dương tạp chí, Nhật tân, Hà Nội báo… “Ngày xưa” là thi phẩm đầu tay của Nguyễn Nhược Pháp. Bản sách in lần đầu do Nguyễn Dương xuất bản tại Hà Nội năm 1935. Về sau in lại nhiều lần, nhưng được nhiều người ưa chuông nhất là bản in của nhà sách Cảo Thơm (Sài Gòn, 1966), do họa sĩ Thái Tuấn vẽ minh họa. Tác phẩm thứ hai và cũng là tác phẩm cuối cùng của Nguyễn Nhược Pháp có tên “Người học vẽ” (kịch), do nhà in Trung bắc Tân văn xuất bản tại Hà Nội năm 1936. Theo tài liệu, đây là hài kịch ba hồi, trước kia đã đăng tải trên Hà Nội báo. Đến hiện nay, tác phẩm này không thấy phổ biến. Ngoài ra, trên bìa sau thi phẩm “Ngày xưa”, người đọc còn thấy có rao sẽ xuất bản tập thơ “Ngày xanh”, hiện vẫn chưa ai biết số phận tập thơ ấy ra sao.

Với tác phẩm “Ngày xưa”, ngay sau ba năm ngày mất Nguyễn Nhược Pháp, Hoài Thanh đã viết những lời tán thưởng trân trọng: “Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp. Không mến sao được? Với đôi ba nét đơn sơ, Nguyễn Nhược Pháp đã làm sống lại cả một thời xưa. Không phải cái thời xưa nặng nề của nhà sử học, cũng không phải cái thời xưa tráng lệ hay mơ màng của Huy Thông, mà là một thời xưa gồm những sắc màu tươi vui, những hình dáng ngộ nghĩnh. Thời xưa ở đây đã mất hết cái vẻ rầu rĩ cố hữu và đã biết cười, cái cười của những “thắt lưng dài đỏ hoe”, những đôi “dép cong” nho nhỏ…”.

“Ngày xưa” do Cảo Thơm ấn hành năm 1966, tranh bìa và minh họa của họa sĩ Thái Tuấn.
“Ngày xưa” do Cảo Thơm ấn hành năm 1966, tranh bìa và minh họa của họa sĩ Thái Tuấn.

Thật vậy, xuyên suốt 10 bài thơ trong “Ngày xưa”, Nguyễn Nhược Pháp đã thể hiện những bức tranh hoài cổ, thơ  mộng, nhưng đầy tươi sáng, bởi tứ thơ thông minh, với  những vần điệu vui tươi, dí dỏm. Đặc biệt, mỗi bài thơ có thể được xem là một câu chuyện nhỏ, mà tác giả thường dùng chữ “xưa” để làm nền dẫn dắt người đọc bước vào một quá khứ mờ ảo, lung linh: “Ngày xưa, khi rừng mây u ám/ Sông núi còn vang um tiếng thần” (Sơn Tinh, Thủy Tinh), “Tưởng lại cờ xưa vàng chói lọi/ Nên yêu người cũ hồn trên cao” (Đi cống)… Theo các nhà phê bình, cái  “ngày xưa” trong thơ Nguyễn Nhược Pháp chính là cái “hiện tại” của tác giả mà thôi. Thế nhưng, nếu nhìn lại cách sắp xếp thứ tự trước sau của 10 bài thơ, chúng ta dễ dàng nhận ra có sự cố ý mang tính biên niên sử. Cụ thể: Sơn Tinh, Thủy Tinh, đến Mỵ Châu, giếng Trọng Thủy… rồi cuối cùng mới đến Mây, Chùa Hương... Trong số đó, hai bài được nhiều người nhắc nhớ hơn cả là “Sơn Tinh, Thủy Tinh” và đặc biệt là “Chùa Hương”. Cả hai bài đều là thơ kể chuyện, và đều rất dài (bài “Sơn Tinh, Thủy Tinh” dài 124 câu, bài “Chùa Hương” dài 136 câu).

Trong bài thơ “Chùa Hương”, ngay dưới nhan đề tác phẩm, tác giả chua dòng chữ: “Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa”. Có nghĩa là trọng tâm cảm hứng của cả tập thơ rõ ràng được đặt ở thời đã qua, chứ không phải đặt vào cái “ở đây”, “bây giờ”. Tuy nhiên, theo tài liệu của nhà thơ Nguyễn Vỹ (Phổ thông số 20, ngày 1.10.1959), vào Hội Chùa Hương năm 1934, ông, Nguyễn Nhược Pháp và hai người bạn nữ sinh Hà thành đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai thi nhân gặp một bà mẹ cùng cô gái độ tuổi trăng tròn vừa bước lên những bậc đá vừa niệm Phật “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”. Vẻ đẹp chân quê và khuôn mặt thánh thiện của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ say mê ngắm nhìn mà quên đi hai cô bạn gái cùng đi. Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp trằn trọc khôn nguôi. Hình ảnh cô gái chân quê đi chùa Hương khiến chàng trai xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu rực rỡ, hình ảnh tươi vui, tất cả cảnh tượng sống động của mùa trẩy hội chùa Hương ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ. “Hôm nay đi chùa Hương/ Hoa cỏ mờ hơi sương/ Cùng thầy me em dậy/ Em vấn đầu soi gương/ Khăn nhỏ, đuôi gà cao/ Em đeo dải yếm đào/ Quần lĩnh, áo the mới/ Tay cầm nón quai thao...”.

Hoài Thanh trong bài viết “Một thời đại trong thi ca”, đã xếp Nguyễn Nhược Pháp vào dòng “có tính cách Việt Nam rõ rệt”. Bởi, chỉ với tập thơ mỏng “Ngày xưa”, bằng một nét riêng, độc sáng, đã phác họa cả một bức tranh không chỉ là huyền thoại, mà còn mang đậm hơi thở phong tục cùng những nét văn hóa tâm linh và tri thức của hàng ngàn năm văn hiến, mà dường như chưa có tác giả nào làm được. Chính vì vậy, nhìn lại giai đoạn văn học sử 1930-1945, thật khó thể hình dung, nếu thiếu đi “Ngày xưa” thì “Thơ mới” sẽ để lộ ra một khoảng trống buồn tẻ biết bao!

TRẦN TRUNG SÁNG

.
.
.
.
.