Trăm năm ngày cũ vọng lời yêu thương...

;
Chủ Nhật, 01/10/2017, 09:23 [GMT+7]

Một ngày sau lễ giỗ theo phong tục cổ truyền, sáng 30.9, chương trình tưởng niệm 100 năm sinh (1917-2017) và 16 năm ngày mất (2001-2017) nhà thơ Trinh Đường do Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh và Hội đồng gia tộc tộc Trương Văn phối hợp tổ chức, diễn ra ngay trên mảnh đất nơi nhà thơ sinh ra: thôn Phú Xuân Nam, xã Đại Thắng, huyện Đại Lộc.

Nhà thơ Trinh Đường (phải).
Nhà thơ Trinh Đường (phải).

Đây là cuộc tìm về với nhiều kỷ niệm của cuộc đời, của thơ ca; tìm về trong sự ngưỡng vọng, yêu thương và sẻ chia với một người thơ, một tâm hồn thơ được nhiều thế hệ người làm thơ, yêu thơ của Việt Nam nói chung và xứ Quảng nói riêng hằng yêu quý, kính trọng. Chẳng vậy mà một tuần trước đó, khi nghe tin về chương trình tưởng niệm nhà thơ Trinh Đường, dù đang phải nằm viện nhưng nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ - hội viên Hội VHNT Quảng Nam, vẫn nén cơn đau, dốc lòng sáng tác ngay một bài thơ bày tỏ tình cảm của mình cùng La Vân thi sĩ. Ở đó, có nhiều câu thơ thầm thì, tỉ tê trong yêu thương, kính trọng: “...Quê Đại Thắng cốc rượu mời/ Trăm năm ngày cũ vọng lời thơ xưa/ Bác về quê khói hương đưa/ Đất lành Đại Lộc chưa mưa/ Thấm rồi...”.

Bài thơ nhờ đồng bào Phước Sơn đặt đề

Sông Phước Mỹ đổ xuống nguồn Vu Gia
Anh biết đổ về đâu quanh năm anh nước lũ.

Xã Phước Mỹ giáp Gia Lai - Kon Tum
Anh giáp đâu trong mang mang hoàn vũ.

Qua xã Phước Thành đến huyện Trà My
Qua lòng anh đến đâu xa xứ?

Núi Xuân Mãi vươn lên thì gặp trời
Anh vươn lên chỉ cháy đầu nắng lửa?

Phước Sơn có vàng có trầm hương
Anh chỉ có một bài thơ viết dở.

Thiếu em anh biết dựa vào đâu
Vắng em anh là cái nhà không cửa.

Đêm nay ôm trọn Phước Sơn mình
Và cả núi rừng kê gối ngủ.

TRINH ĐƯỜNG

Không chỉ có nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ, nhiều anh chị em văn nghệ sĩ khác đã bày tỏ tấm tình-văn-nghệ sáng trong với những nhớ thương, tri ân, nể trọng và kính phục dành cho nhà thơ Trinh Đường. Không yêu thương, không nể trọng, không nhận thấy một “bóng thơ” Trinh Đường lừng lững thì khi người thơ làng La Vân về cõi khác, hẳn nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm đã không dám xác quyết rằng “Tim ngừng đập tay còn cầm bút/ Trang giấy trắng bay trống một khoảng trời”. Cũng từ những tình cảm ấy và đặc biệt, từ những cảm nhận, đồng cảm sâu sắc về những tầng giá trị của thơ Trinh Đường, Nguyễn Nho Khiêm còn chỉ ra được sự vi diệu của thơ ông: “Trả lại cho đời thơ hóa tiếng chuông/ Giục giã bước chân băng qua bóng tối/ Ngả nào hoa thơm ngả nào quỷ quái/ Trái tim thơ gọi nhớ Trinh Đường”.

Riêng với Huỳnh Minh Tâm - một nhà thơ của xứ Quảng trưởng thành sau năm 1975, nhà thơ Trinh Đường là ông-thầy-thơ-ca lãng mạn và kỹ tính “trong thế giới thơ ca không có quy luật”. Vì thế, như nhiều thế hệ người làm thơ và yêu thơ xứ Quảng, anh luôn dành cho nhà thơ Trinh Đường sự ngưỡng mộ, kính trọng và luôn “ngước mắt tìm ông/ Sự gần gũi nét Quảng Nam gân guốc và to tiếng/ Luôn xê dịch, chịu sự xê dịch/ Giấc mơ một đời sống trầm tĩnh/ Dưới vẻ xù xì thô kệch của chú cóc”. Nghiêng về những ngẫm ngợi có phần đắng đót và nhiều ưu tư, nhà thơ Nguyễn Nhã Tiên viết: “Sức lực có tòng tâm hay không thì ông (nhà thơ Trinh Đường) cũng đã trả giá cho suốt một cuộc đời lên ghềnh xuống thác với thơ, tận hiến cho thơ như một kẻ tử vì đạo”. Trong khi đó, từ 2 câu thơ của nhà thơ Trinh Đường (Đời không thành tia chớp/ Sống làm gì cho lâu), nhà thơ Trương Xuân Đông - một người có quan hệ nội tộc với La Vân thi sĩ, đã biểu lộ sự yêu quý, ngưỡng mộ và lòng nhớ thương rất chân thành: “Bây giờ tia chớp mong manh/ Nhớ anh. Tôi ngóng trời xanh soi về”.

Tính đến lúc này, nhà thơ của quê hương Đại Thắng, Đại Lộc, Quảng Nam rời cõi tạm đã tròn 16 năm. Nhưng đâu đó, con người và thơ ông vẫn luôn hiển hiện, tiếp tục theo đuổi, phụng sự, tôn vinh tình yêu quê hương, tình yêu thơ ca, hướng đến cái đích chân-thiện-mỹ. Do vậy, “trăm năm ngày cũ” không chỉ “vọng lời thơ xưa” như nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ đã viết, mà trong lòng các thế hệ người làm thơ và yêu thơ, với Trinh Đường, vẫn mãi “vọng lời yêu thương”!...

Nhà thơ Trinh Đường tên thật là Trương Đình, sinh năm 1917 trong một gia đình nho học ở xã Đại Thắng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Ông là một người yêu thơ và bắt đầu làm thơ từ tuổi thiếu niên. Sau Cách mạng tháng 8.1945, ông tham gia cách mạng, làm thư ký Đoàn văn hóa kháng chiến tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, rồi ủy viên Ban Chấp hành Chi hội Văn nghệ Liên khu 5, Phân hội trưởng Phân hội Văn nghệ Quảng Nam - tiền thân của Hội Văn nghệ Quảng Nam - Đà Nẵng sau này. Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc, tham gia sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam và làm việc tại nhiều cơ quan văn nghệ khác nhau.

Ngoài thơ, Trinh Đường còn sáng tác văn xuôi, viết tiểu luận, bình thơ; ông sáng tác cho cả người lớn và trẻ em. Trong cuộc đời văn chương dài hơn 60 năm của mình, ông đã xuất bản 13 tập thơ; 3 tập truyện ngắn và bút ký; 5 công trình lý luận phê bình và nhiều tác phẩm, công trình khác.

Nhà thơ Trinh Đường từng được trao thưởng Huân chương Kháng chiến hạng ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huy chương vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam... Năm 2012, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật. Đặc biệt là, ngoài những phần thưởng ấy, ông còn nhận được  một phần thưởng khác vô cùng quý giá, đó là tình yêu thương, nể phục, ngưỡng mộ của công chúng yêu thơ và văn giới cả nước.

BẢO ANH

.
.
.
.
.