Tiếng hót từ đồng cỏ

;
Thứ Bảy, 06/04/2019, 08:33 [GMT+7]

Nguyễn Vĩnh, một cựu chiến binh ở Đại Hồng (Đại Lộc), đến với văn chương khá muộn: Ngoài 50 tuổi mới lò dò viết lách, 62 tuổi mới xuất bản tập thơ đầu tiên. Cứ tưởng sự trễ muộn ấy sẽ đi kèm với những cũ càng, thô vụng, để rồi bị “lỗi nhịp” giữa bầu sinh quyển văn chương ồn ã réo đòi cách tân như hiện nay... Nhưng hóa ra, 62 bài thơ được Nguyễn Vĩnh bày ra trong tập thơ đầu tay “Chiền chiện hót trên đồng cỏ” (NXB Đà Nẵng, 2019) lại là một bản hòa âm tươi tắn, tinh khôi và mới mẻ...

Cũng viết về cha mẹ (một mảng chủ đề lớn trong tập thơ này), lại sử dụng những “dữ liệu” hết sức quen thuộc, nhưng trên hành trình của mình Nguyễn Vĩnh đã tránh được những dấu chân cũ. Ơn nghĩa sinh thành được kể khéo léo trong phép so sánh ngầm: “Con lớn rồi nhưng mãi chưa khôn/ Rách thịt vấp trò đời dâu bể/ Mẹ hạt gạo lâu năm trùm mễ/ Nghiêng lưng chỗ ướt mẹ nằm” (Rằm giêng viếng mộ); được biểu lộ qua những chiêm nghiệm suốt một đời người mưa nắng: “Cha rót vào con lương thiện/ Mẹ rót tràn con lòng thủy chung” (Cha và con). Hay như trong tình cảm lứa đôi, vẫn là trái tim yêu run rẩy dại khờ ấy thôi nhưng lý lẽ thì đã biết “già” hơn, thấm thía hơn, không chỉ trong lời hò hẹn “Tháng ba lộc non chớm đầy/ Em và tôi hẹn nhau tháng bảy/ Ngửa mặt nằm nghe nước sông trôi” (Chiền chiện hót trên đồng cỏ) mà cả trong những xao xác của tan vỡ, chia ly: “Hỏi rừng/ sim đã nở chưa/ Chỉ nghe xao xác/ tiếng mưa cuối ngàn/ Con đò chở khách sang ngang/ Gió phiêu bạt gió/ hợp tan bao giờ” (Ngây ngô). Cả ngẫm suy về thế sự, cái thảng thốt của người thơ cũng nhuốm âu lo, rất thật mà giàu hình tượng: “Người lính già ưu tư nhìn vỏ đạn/ Hòa bình rồi súng vẫn nổ vang/ Bắn vào tương lai bắn vào quá khứ...” (Chưa đặt tên).

Làm thơ chưa lâu, trải nghiệm thi ca chưa nhiều, nhưng dường như “người thơ già” Nguyễn Vĩnh rất có ý thức và biết dụng công trong việc làm mới chính mình, hay đúng hơn là trong việc tiếp cận và thử nghiệm với cái mới. Trong tập thơ riêng đầu tay này, Nguyễn Vĩnh có những câu thơ viết theo thể tự do vừa trẻ trung vừa hiện đại, từ ý tứ đến ngôn từ: “Đồng lì xì thơm ngát hương cau/ Xúng xính nghiêng tràn tôi vải mới” (Lãng đãng khúc giêng); “Trong giấc mơ hằng đêm/ Đôi khi tiếng con chìa vôi hót/ Đọt chuối cong ngọn cần câu/ Quê nghèo giẫm đau những mùa đất bệ” (Giẫm đau mùa đất bệ quê nghèo)... Nhiều bài thơ lục bát rất chắc niêm luật, lại đẫm vị ca dao nhưng cũng không thiếu những dấu hiệu cách tân, nhất là ở kỹ thuật vắt dòng: “Bao giờ bếp lửa/ thổi chung/ Nồi cơm gạo nở/ bung vung ra cười/ Thương/ nên chín bỏ làm mười/ Xa xôi nước mắt/ cõi người rưng rưng” (Hẹn hò); “Trong thinh lặng/ tiếng bọt trào/ Trong ẩn ngữ/ tiếng sông gào/ hoang vu” (Sông).

Có thể chưa đủ để làm nên một chân dung thật sự ấn tượng và rõ nét, nhưng bằng sự điềm đạm, sâu đằm trong từng ý tứ; những thao thức vượt thoát trong hành ngôn; những tung tẩy chừng mực trong thể hiện... từ “cánh đồng cỏ” quê kiểng, mộc mạc, hiền lành, “tiếng hót” của Nguyễn Vĩnh đã hòa vào cánh đồng thơ ca mênh mông của quê hương...

BẢO ANH

.
.
.
.
.