Vĩnh Quyền nhà văn chọn sự khác biệt

;
Thứ Bảy, 27/04/2019, 12:18 [GMT+7]

Xuất hiện trên văn đàn từ những năm 80 thế kỷ trước, Vĩnh Quyền (sinh năm 1951 tại Huế, sống và làm việc tại Đà Nẵng) là một gương mặt rất riêng với các tiểu thuyết lịch sử về vùng đất Thuận Quảng. Ngòi bút tài hoa của anh đã làm say lòng độc giả qua các tập sách tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, tản văn... Quá trình làm báo, vốn Hán Nôm dày dặn cùng năng khiếu ngoại ngữ đã tạo cho anh bề dày trải nghiệm không phải người cầm bút nào cũng có được, để hiện nay anh hướng đến hình thức tân tiểu thuyết đương đại.

Nhà văn Vĩnh Quyền.
Nhà văn Vĩnh Quyền.

* Duyên cớ nào dẫn đến sự ra đời các tiểu thuyết lịch sử đầu tay của anh - Vầng trăng ban ngày và Mạch nước trong? Anh có thể chia sẻ về dấu ấn các tác phẩm này?

Nhà văn Vĩnh Quyền: Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Đổng Chi vào miền Trung công tác. Biết tôi là cử nhân Việt Hán khóa cuối ở miền Nam, thầy gọi tháp tùng đợt khảo sát thực trạng sách cổ lưu tán trong các tủ sách tư nhân. Trước khi về Hà Nội, thầy có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh và nhà văn Phan Tứ - Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam - Đà Nẵng, bất ngờ đề xuất chuyển tôi từ ngành giáo dục về hội, tiếp tục thu thập, xếp loại và nghiên cứu mảng văn hóa, văn học Hán Nôm.

Tác phẩm đã xuất bản: Vầng trăng ban ngày – tiểu thuyết; Mạch nước trong - tiểu thuyết; Người tử tù không chết - tập truyện; Màu da thượng đế - tập truyện; Người vẽ thế gian - tập truyện; Ngày và đêm Panduranga - bút ký; Vàng mai - tản văn; Huế mình - tập truyện và ký; Tình cờ và ký ức - bút ký; Chiều hoang đường đứt gãy - tập truyện; Mảnh vỡ của mảnh vỡ - tiểu thuyết; Sói hoàng hôn - tập truyện; Trong vô tận - tiểu thuyết; Debris of Debris - tiểu thuyết  (Anh ngữ); The Dust Wolf - tập truyện (Anh ngữ).

Trong thực tế, đáp ứng nhu cầu phát triển tạp chí Đất Quảng của hội, công việc chính của tôi là biên tập. Nhưng tư liệu Hán Nôm, cùng những chuyến khảo sát trên địa bàn Quảng Nam - Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế dẫn tôi đến quyết định viết tiểu thuyết lịch sử. Vầng trăng ban ngày ra mắt năm 1983, được tái bản đến lần thứ tư. Ba năm sau, 1986, Mạch nước trong được xuất bản, cũng được tái bản liên tục, có lần với số lượng mười nghìn bản. Hồi đó được xuất bản một tiểu thuyết ở các nhà xuất bản Thanh Niên, Kim Đồng đã là “ghê gớm” lắm. Nên một số nhà phê bình nhìn vào tôi như một “hiện tượng” trong lớp nhà văn trẻ sau 1975.

Tôi luôn nhớ ơn nhà văn Phan Tứ, người biên tập tiểu thuyết đầu tay của tôi. Anh nguyên tắc và khó tính. Một sáng đến cơ quan hội, tôi nhận được giấy hẹn trao đổi về bản thảo chương 1 Vầng trăng ban ngày tại nhà anh, lúc 2 giờ chiều. Trễ 15 phút, tôi chỉ gặp cánh cửa đóng, tờ giấy dán ngay ngắn trên đó, với dòng chữ đánh máy màu đỏ: “Vĩnh Quyền, tôi đã làm việc khác - Phan Tứ”. Tôi bóc nó mang về xếp vào tệp bìa cứng vốn dành cho “tư liệu Phan Tứ”, đồng thời để cắt ngắn danh sách những người có thể đọc. Sau đó, 12 buổi hẹn cho 12 chương, tôi luôn đúng giờ. Có ai biên tập vậy không? Không. Đó chỉ có thể là “đào tạo”.

Tôi không quên nhà văn Nguyễn Văn Bổng. Không chỉ đọc hết những sách tôi xuất bản, ông còn khích lệ bằng một bài phê bình. Hơn hai nghìn chữ của nhà văn lão thành trên một trang báo Văn Nghệ (số 50 - 1986) là món quà tinh thần ngoài mong đợi đối với nhà văn mới vào nghề như tôi.

Cuối cùng, tôi cám ơn mảnh đất Quảng Nam, nguồn cảm hứng bất tận trong sáng tác tiểu thuyết lịch sử. Thử điểm qua danh tính nhân vật chính và phụ nổi bật trong các tác phẩm của tôi: Thái Phiên, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Tiểu La Nguyễn Thành, Nguyễn Duy Hiệu, Huỳnh Thúc Kháng…

* Hơn 20 năm làm phóng viên chuyên mục phóng sự, rồi trưởng Văn phòng khu vực miền Trung của báo Lao Động, với anh, nghề báo và nghề văn đã tương tác như thế nào?

Nhà văn Vĩnh Quyền: Văn thông tấn và văn chương khác nhau trời vực. Bên phi hư cấu, bên hư cấu là nền tảng nghệ thuật. Nhưng cả hai lại chung mục đích tìm sự thật, khám phá con người. Giới cầm bút, với nhiều người, nghề báo là “sát thủ thầm lặng” đối với nghề văn, hoặc ngược lại. Tôi là kẻ may mắn. Nghề văn giúp tôi mở ra cách viết phóng sự khác biệt. Thay vì tập trung khai thác sự kiện và vấn đề thời sự tôi còn khám phá cảm xúc và phản ứng của nhân vật báo chí và của chính nhà báo. Tôi biết ơn báo Lao Động Chủ nhật (1989 - 1994) đã đón nhận “phóng sự mới” của tôi, dành đất sống cho cái tôi tác giả trong tác phẩm báo chí, giữa lúc cả làng báo nói không.

Không có hơn 20 năm làm báo, hẳn tôi không có cơ hội xê dịch khắp đất nước mình, lang thang đó đây qua các miền châu lục, và làm sao tôi có điều kiện tiếp cận chừng ấy nhân vật, những thân phận trầm luân bi tráng đôi khi vượt tầm hư cấu nhà văn, để tôi biết vui niềm vui người Việt, biết đau nỗi đau người Việt, trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, để viết nên thiên tiểu thuyết tiếng Anh Debris of Debris, với khao khát cất lên một tiếng nói Việt ra thế giới?

* Debris of Debris là một trong những kết quả quá trình tìm lối đi riêng của anh, được in lần đầu tại Mỹ, rồi sau đó tại Anh. Anh có thể nói gì thêm về công việc viết và xuất bản tiểu thuyết này?

Nhà văn Vĩnh Quyền: Cám ơn câu hỏi cho tôi sống lại 7 năm dữ dội, trải nhiều cung bậc cảm xúc, vui có thất vọng có, may cái kết khá ngọt ngào. Sau khi xuất bản hơn mười đầu sách, tôi có nhu cầu bước ra khỏi ngôi nhà văn chương quen thuộc. Tôi làm mới bản thân bằng ngôn ngữ mới: tiếng Anh; hiện thực và nhân vật mới: thế hệ trí thức trẻ miền Nam trước và sau 1975 (những người đi trên con đường không bằng phẳng để tìm kiếm tương lai trong xã hội mới, chế độ mới...); lối viết mới: nhà văn làm người quan sát. (Theo tôi góc nhìn nhà văn quyết định tính trung thực của tác phẩm. Tôi cũng không né tránh những “vùng cấm” theo luật bất thành văn ở Việt Nam lâu nay, không “thả nổi” cho nhà văn nước ngoài “độc quyền” khai thác các hiện thực được cho là nhạy cảm như trại cải tạo, vượt biên...).

Bốn năm viết, một năm gõ cửa thiên hạ bằng email, Debris of Debris được Đại học Saint Benedict (Minnesota, Mỹ) đón nhận năm 2009. Mất thêm ba năm tu chỉnh tiếng Anh mới ra được bản thương mại đầu tiên tại NXB Austin Macauley (London, Anh). Thế là vượt qua được rào cản ngôn ngữ, mở được cánh cửa ngành công nghệ xuất bản Anh - Mỹ. Trong thư gửi tôi, nhà văn cựu binh Mỹ Wayn Karlin viết: “Hôm nay đọc xong Debris of Debris. Cuốn tiểu thuyết ấn tượng làm sao. Nó khiến tôi xúc động đồng thời hiểu thêm Việt Nam. Tôi cũng rất ấn tượng khi tác giả viết bằng Anh ngữ”. Nhà biên tập Mỹ Zac Herman viết trên Tuổi trẻ Cuối tuần (3.11.2016): “Các nhân vật chính trong Debris of Debris là những sinh viên miền Nam thuộc thế hệ mất mát trong chiến tranh, nhặt lấy những “mảnh vỡ” đời mình và cố gắng bắt đầu lại ngay sau khi chiến tranh kết thúc. Với góc nhìn này, tiểu thuyết của Vĩnh Quyền khiến ta liên tưởng đến The Great Gatsby của Fitzgerald hay On the Road của Kerouac”.

Nhưng tác phẩm vấp phải rào cản trên đường về: Debris of Debris không được phép thông quan vào Việt Nam với lý do “oán trách chế độ, gây mâu thuẫn trong nhân dân” (văn bản Sở TT-TT TP.Hồ Chí Minh). Tôi yêu cầu Debris of Debris phải được thẩm định bởi một hội đồng nghệ thuật. Chỉ gặp sự im lặng. Tự tìm lấy một “hội đồng nghệ thuật cấp quốc gia” cho mình, tôi chuyển Debris of Debris ra tiếng Việt - Mảnh vỡ của mảnh vỡ, dự cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam đang vào giai đoạn cuối. Kết quả Mảnh vỡ của mảnh vỡ đoạt giải Nhì (không có giải Nhất). Như ly rượu thơm tiếp sức cho nhà văn trên hành trình đơn độc.

* Trong vô tận được xuất bản cuối tháng 3.2019 chứa đựng những đổi mới về cấu trúc tiểu thuyết, cách đan kết các tuyến nhân vật, và vấn đề đặt ra cũng khác so với những tiểu thuyết trước đây của anh. Ý đồ người viết và hiệu quả của tác phẩm có khiến anh hài lòng?

Nhà văn Vĩnh Quyền: Một lần nữa tôi nỗ lực làm mới văn mình bằng tiểu thuyết phi truyền thống, hướng đến chủ đề đương đại: đánh thức khao khát tìm mã di truyền (genetic code), kết nối quá khứ như là một hành động hoàn thiện bản thân. Về hình thức, Trong vô tận là tiểu thuyết ngắn, như một file nén, chưa tới 250 trang nhưng có sức chứa câu chuyện trăm năm và hơn thế. Với hệ thống nhân vật ngôi thứ nhất (không bị ràng buộc bởi logic tâm sinh lý, logic xã hội, logic không gian thời gian, được buông trôi tự nhiên theo dòng ý thức, trong đó hồi ức và giấc mơ là những chuyến tàu, những đôi cánh không lập trình điểm đến, dễ dàng xuyên không gian thời gian, kể cả lạc vào thế giới vô thức chưa từng biết…), nhà văn có khả năng mở rộng tối đa biên độ hiện thực, dẫn dụ người đọc nhập vào nhân vật, cùng tương tác kiến tạo và phát triển câu chuyện theo hướng đa thanh.

Kết quả cuộc thể nghiệm đến đâu cần thêm thời gian thẩm định, đặc biệt tùy thuộc phản ứng tương tác của người đọc. Thậm chí nó không còn là chuyện của nhà văn. Và nhà văn trở lại vị trí người quan sát.

* Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện này!

LÊ TRÂM (thực hiện)

.
.
.
.
.