Học gì ở một nhà báo viết văn

;
Thứ Tư, 21/06/2006, 16:48 [GMT+7]

Chỉ gặp anh trong vài lần trên chiến hào chống giặc Mỹ, không được ở gần anh song những trang nhật ký anh để lại cho tôi một bài học vô cùng quý.

Lúc bấy giờ, những năm 1965 đến 1971, Lầu Năm Góc liên tục đổ quân và tăng viện nhiều hơn xuống chiến trường Nam  Việt Nam, trong đó Quảng Đà là mặt trận nóng bỏng  và ác liệt nhất. Ác liệt bởi Mỹ đã chọn Đà Nẵng làm căn cứ hải - lục - không quân lớn nhất miền Nam Việt Nam.

Chu Cẩm Phong rất muốn được đi thực tế và xung phong đến những nơi ác liệt nhất, khó khăn nhất:

Năm 1966 anh đi Hòa Hải (nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn) - một vùng dân cư và đồn bót sát các căn cứ quân sự của Mỹ và tay sai ở thành phố Đà Nẵng.

Năm 1967 anh đi Sơn Tịnh - vùng vành đai phía bắc - tây bắc tỉnh lỵ Quảng Ngãi, nối vùng  rừng núi căn cứ Trà Bồng. Sơn Tịnh ác liệt hơn cả huyện Đức Phổ.

Năm 1968 anh đi Hội An. Sau Tết Mậu Thân - 1968, vành đai quanh Hội An vào đến đông Duy Xuyên,  đông Thăng Bình  là nơi địch phản kích dữ dội, bom pháo ngày đêm, càn quét liên miên.

 Năm 1969 anh đi Bình Dương - Thăng Bình - Quảng Tín. Đây là vùng đất  anh hùng vì vậy địch luôn nống ra từ Cửa Đại - Hội An, từ vùng biển Đông và từ quận lỵ Thăng Bình với tên quận trưởng  Đăng khét tiếng gian ác và căn cứ quân sự Tuần Dưỡng.

Năm 1970, anh đi Nam Giang - vùng dân tộc thiểu số của Quảng Đà, giáp nước bạn Lào. Thời  gian ngắn công tác ở vùng cao này Chu Cẩm Phong  đã ghi hàng trăm trang nhật ký về cuộc sống lao động, chiến đấu của đồng bào. Người Cơtu rất quý mến Chu Cẩm Phong còn vì anh học nói được tiếng nói của dân tộc họ.

Năm 1971 anh đi đông, trung và tây Duy Xuyên - nơi có dày đặc đồn bót, quận lỵ của địch, có quân Nam Triều Tiên khét tiếng gian ác và quân của lữ đoàn 196 lính thủy đánh bộ Mỹ không lúc nào rời các mỏm núi cao... soi nhìn khống chế cả một vùng rộng lớn.

Đi đến đâu, tranh thủ mọi thời gian có được, anh mở sổ tay ghi, ghi những gì anh thấy được, đánh giá về điều đó và ghi cả suy nghĩ và cảm  xúc của mình ngay lúc nhìn thấy sự việc.

Theo tôi, đây là một bài học rất hay và rất quan trọng cho những người  làm báo có khát vọng viết văn  để trở thành một nhà văn.
Do khát khao nắm bắt được thực tế cuộc sống, chiến đấu sôi động ở địa phương nên Chu Cẩm Phong đã đi và ghi rất kỹ, rất nhiều... Rồi anh lại phải tranh thủ biến nguồn tư liệu ấy thành bút ký và truyện ngắn. (Tôi nói tranh thủ vì thời ấy về lại căn cứ là phải lo làm nhiều việc : phát rẫy tỉa lúa, bắp, trồng sắn, đi gùi cõng gạo, mắm, làm lán trại, chạy càn, tránh bom, họp hội... Không tranh thủ viết ban đêm, giữa khuya thì sẽ không viết được gì).

Một thời gian ngắn ở trên đất Bình Dương - Thăng Bình, về cứ, ngoài viết bài cho Báo Giải phóng Quảng Đà, Báo Cờ giải phóng Trung Trung bộ, anh còn tranh thủ viết được  bút ký : “Mặt biển - Mặt trận” (tháng 1-1969). Trong thời gian công tác ở vùng ven Hội An, Chu Cẩm Phong đã viết được bút ký rất hay “Gió lộng từ Cửa Đại” và truyện ngắn “Con chị Hiền”...

Qua  hàng nghìn trang nhật ký Chu Cẩm Phong đã ghi được, nếu không hy sinh thì ai mà đoán biết được, với khả năng làm việc của mình, anh sẽ viết được bao nhiêu bút ký, truyện ngắn, truyện vừa. Song có một điều, chắc chắn  những trang nhật ký anh để lại là những trang văn, những trang báo, những trang lịch sử hết sức cụ thể, hết sức sinh động, hết sức chân thật nói về một người mẹ, một người chị, một chiến sĩ du kích, một xã đội phó, một đội cơ giới, một cô giao liên, một gia đình, về một vùng đất... trong những thời khắc lịch sử cụ thể...

Thời gian đi qua cùng sự quên  lãng vốn có của con người sẽ xóa đi tất cả, sẽ quên đi rất nhiều. Và những trang nhật ký của Chu Cẩm Phong sẽ giúp ta nhớ lại, hình dung  ra một ngày hôm qua, những ngày hôm qua, về nhiều điều, trong đó có rất nhiều điều về nhân dân anh hùng.

Đây là bài học vô cùng quan trọng mà người làm báo phải học. Bài học về nhân dân, gắn bó với nhân dân. Nếu trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm, giữ vững được đất nước có một bí mật quốc gia mà kẻ thù hung bạo nhất thế giới không thể nào hiểu được là bài học về nhân dân, về chiến tranh nhân dân thì, trong thời bình, trong xây dựng và phát triển, những người làm báo, những người viết văn nào biết tiếp xúc với nhân dân, hòa mình vào cuộc sống của người dân  mới hiểu hơn về nhân dân, càng yêu quý nhân dân và tất nhiên, sẽ viết nên những bài báo hay, có ích, viết được những tác phẩm tốt nhất cho người đọc, cho nhân dân.

Hồ Duy Lệ 

.
.
.
.
.