Cánh diều cổ tháp

;
Thứ Sáu, 04/08/2006, 15:37 [GMT+7]

Vùng đất cha đưa tôi vào sau ngày mẹ tôi mất thì mãi đến cả năm sau tôi mới hòa nhập và cảm thấy yên lòng cùng vẻ đẹp của nó, đẹp hơn triền đê làng cũ mỗi chiều ủ sương cùng những con đường có những rặng nhãn mỗi năm đơm hoa một lần, thơm ngát đến vương vấn cả tuổi thơ ở miền ngoài. Vùng đất trong này bên một dòng sông dọc theo chiều dài của lũy tre và rặng trâm bầu xanh mướt mắt, những chiếc ghe neo mình, trong bóng mát lẫn tiếng nước róc rách ven bờ. Bên kia sông là phố thị và bên kia ấy có ngôi tháp cổ mang tên tháp Nhạn mà cha từng kể xưa kia, biển ở cạnh nơi này cùng đàn nhạn chiều chiều bay về đậu rợp.

Chiều chiều tôi ngóng mắt qua sông, ngước lên đỉnh Nhạn không phải tìm bóng chim xưa cũ của truyền thuyết mà thích thú ngắm nhìn những cánh diều căng gió nhiều màu sắc. Ở độ cao ấy, sừng sững ngôi tháp cổ màu gạch sẫm đan chen đủ loại diều. Bên này sông là làng quê yên ả, bên kia sông là phố  ồn ào nghe rõ tiếng xe cộ bởi chỉ cách chuyến đò qua sông không quá mười phút. Tôi theo chuyến đò mười phút ấy sang bờ rồi lầm lũi đi trên những bậc tam cấp để lên dần tới đỉnh. Tôi chọn góc khuất bên tường tháp để tránh gió lộng thổi và cũng tránh bao ánh mắt tò mò, chắc chắn là vậy vì tôi từ phương Bắc vào mà. Từ phía lồng lộng mây trời và gió ấy, tôi nhìn xuống vùng đất của cha. Bên dưới chiều đang xuống chậm là những mái nhà lô nhô cao thấp, tháp chuông nhà thờ xa hơn nữa là cánh đồng xanh rì ruộng lúa và cũng xa hơn nữa có những dải cát vàng cùng màu xanh biển khơi. Ngôi nhà tôi ở bên kia dòng sông ẩn khuất dưới những lũy tre có những vuông đất để trồng hoa vào các vụ mùa.

"Chào nhóc, sao thẫn thờ dzậy?". Tôi ngước nhìn người đang đối diện trước mặt, hắn cũng chỉ nhỉnh hơn tôi vài tuổi. Bất giác đứa con gái ngỗ nghịch trong tôi bừng giấc : "À tôi đang nhớ những cánh diều trên triền đê...". Lại nghe tiếng cười khẽ chao trong gió : "À, cô Bắc Kỳ nho nhỏ”. Tôi hơi trùng mắt trước mặt gã con trai lần đầu mình đối diện rất gần. Hắn có khuôn mặt dễ chịu, da ngăm đen, nụ cười hiền hiền. Hắn vẫn cười và tỏ ra thân thiện giải thích từng con diều cánh bướm, diều hộp, diều rít, diều ông sao và kể cả việc... một bầy nhóc luôn vây lấy hắn ỉ ôi đủ chuyện từ chiếc diều rách đến sợi cước rối. Tôi chợt phì cười khi biết hắn là nhóm trưởng thả diều và câu hỏi ngô nghê "Thế đằng ấy... nhà ở nơi nào ?", tôi bụm miệng đưa tay chỉ "Tớ ở dưới ấy". Hắn bật cười gật gù ra chiều hiểu biết "Làng hoa chuyên trồng loại hoa lay ơn cánh kiếm".

Sau này khi thân hắn, đêm trăng trên triền cát bờ sông, hắn kể về một loài lay ơn tận phía trời Tây, điểm xuất phát là có một đôi yêu nhau, khi chàng và nàng nắm tay dạo chơi ven hồ thì chợt trông thấy cánh hoa lạ nở nụ hồng rực. Nàng kêu lên thích thú và bảo chàng lội xuống hái cho nàng. Để chiều lòng người yêu, chàng lội xuống hồ. Khi đã đến gần nụ hoa thì chàng chới với sụp chân chìm dần. Trước khi chìm hẳn, chàng cố gọi cho nàng câu xin đừng quên tôi và ngày sau nơi ấy xuất hiện một cây hoa lạ hình thanh kiếm, còn gọi là hoa lay ơn. Và điểm cuối cùng là hắn kể chuyện dở ẹc, thua cha tôi !

Tôi vào cấp ba học cùng trường với hắn. Để tỏ ra bậc đàn anh cuối cấp, nhất là xuất hiện một cô nhỏ Bắc Kỳ với bím tóc dài, tiếng nói khác miền sẽ bị châm chọc nên hắn bảo bọc tôi suốt cả năm đầu như hình với bóng, các bài toán hóc búa chỉ cần hắn góp vài lời là nhận điểm mười ngon lành. Tôi dần dần mến hắn và thầm cảm ơn khi mùa mưa đi qua vùng đất có ngôi cổ tháp, có làng hoa với các con đường ngang dọc lỗ chỗ ổ gà sũng nước nhão nhoẹt bùn đất. Chiếc xe đạp thanh ngang vượt cầu đón tôi mỗi sớm mù sương lạnh cóng và tiễn tôi sang chuyến đò ngang ban trưa nước lặng xuôi dòng. Hắn có khuôn ngực nở căng nên đôi lúc cho tôi êm ấm mỗi khi ngồi trước càng xe vô tình để mái tóc chạm vào lúc hắn gò người đạp xe lên dốc. Và đôi lúc cũng bực bội khi chia tay nơi bến đò, hắn chỉ nhếch môi nheo mắt nhìn tôi rồi phóng xe đi thẳng.

Một mùa đông đi qua, mùa xuân lại đến. Khoảnh vườn đã vào vụ hoa lay ơn thanh kiếm. Sau các đợt lũ, phù sa bồi đắp cho những hạt giống ươm mầm ngày một xanh rì. Chiều chiều, tôi cùng cha vục gàu sòng lấy nước nơi nhánh sông con để tưới những luống hoa. Hắn lại đến, thản nhiên cởi áo, xắn quần, đưa đôi vai lẫn khuôn ngực trần rám nắng nâng chiếc đòn gánh có đôi thùng sóng sánh nước rồi chạy băng băng về vườn hoa và nghiêng vai nhẹ chân tưới, từng dòng nước tỏa đều trên vòi sen cùng nụ cười của hắn. Lúc hắn đợi tôi cho nước vào thùng, bất chợt hắn sững người trố mắt nhìn đôi chân trắng ngần của tôi khiến tôi đỏ bừng mặt phải sẽ sàng quay người hạ thấp gấu quần đến dưới gối. Và tôi cũng thấy thương hắn khi gần đến ngày thu hoạch, bất chợt gió mùa tràn về cùng đợt sương muối phủ kín cánh đồng hoa. Hắn lại đến xắn tay mà quây cót đan kín rồi chong điện thắp sáng nhằm ủ ấm cho kịp ngày nở nụ. Những đêm ấy, mặc sương sa gió lạnh, hắn ngồi bên tôi kể bao chuyện vùng đất phố bên kia sông, nơi hắn theo cha mẹ từ quê ra phố mà bỏ những cánh diều ngày cũ với bạn làng, những ngày cắp sách đến trường, những ngày hè rủ các em nhỏ lên thả diều trên núi Nhạn và hắn cũng im lặng lắng nghe tôi kể về miền quê phương Bắc, những ngày hoa gạo tháng ba, những chiều hè ngồi trên vệ cỏ triền đê của nhánh sông Hồng với bạn bè... Khuya, hắn chào tôi ra về và khi cả hai ra đầu ngõ, tôi lẳng lặng đưa chiếc áo len đông xuân cho hắn, khẽ nói đi dọc triền sông gió lạnh đổ về nhiều. Lần đầu tiên từ khi quen nhau, hắn cảm động ra mặt nên không nhếch môi nheo mắt mà chỉ ấp úng cười trong gió se sắt.

Tết gần kề, khoảng vườn hoa thanh kiếm nở nụ vàng rực. Trước ngày những người mua đến nhận hoa, tôi chọn cành lay ơn thanh kiếm đẹp nhất đợi hắn đến để tặng và khi ra về, cha tôi chọn bó lay ơn đều cành, đều nụ để biếu gia đình. Năm ấy, lần đầu tiên tôi qua sông vào chuyến đò mùng hai tết để đến nhà hắn, ngôi nhà trong con phố nhỏ rợp bóng cây xanh đầy yên tĩnh. Hắn ngạc nhiên trố mắt rồi cười rõ tươi. Đêm ấy, tôi mất ngủ và biết rằng mình vừa mười sáu tuổi.

Chớm hè, mùa thi đã qua. Hắn rủ tôi lên núi Nhạn thả diều. Lần này trong tay tôi là cánh diều trắng trôi trên bầu trời phố thị. Hắn ngồi dưới gốc cây sứ nở hoa vàng để ôn bài cho mùa thi đại học gần kề, thỉnh thoảng hắn mỉm cười nhìn tôi đang ngồi chen trong đám con nít đệ tử hắn để đùa giỡn. Đôi lúc, hắn lại đến bên tôi và nhẹ nhàng lấy khăn lau từng giọt mồ hôi ướt đẫm trên tóc mai và lại cười. Lần này, tôi để yên vì biết rằng hắn muốn chăm sóc tôi trước lúc lên đường và tôi cũng vậy, chẳng muốn xa hắn tí nào (có khổ không chứ !). Đến ngày thi, tôi nôn nao khi hắn lên tàu vào Sài Gòn và ngóng mắt chờ hắn trở về. Ngày hắn trở lại khoảnh vườn, tôi nhận từ tay hắn món quà là chiếc kẹp tóc hình cánh hoa lay ơn thanh kiếm, hắn cũng nhận từ tôi nụ cười tươi chưa từng có và hắn cũng cảm động vì tôi bảo hắn gầy quá. Chỉ trong một tháng, tôi và hắn mặc sức đưa diều trên đỉnh tháp lồng lộng gió. Chiều chiều, trên bãi cát dài chập chùng  sóng vỗ của biển xanh chỉ có tôi và hắn miên man kiếm tìm từng vỏ ốc đủ sắc màu và không biết bao lần hắn vục gàu sòng đưa nước tưới khoảnh vườn đang vào vụ hoa mới. Chỉ trong tháng ấy, chứa đầy tiếng cười reo vui của cả hai thì hắn nhận được giấy báo trúng tuyển đi học nước ngoài.

Bây giờ tôi không cần những lần vục gàu sòng vì cha đã dẫn nước về vườn bằng hệ thống tưới, không cần lên đỉnh tháp Nhạn mà ngắm những cánh  diều vào hè. Tôi chỉ cần có hắn bên cạnh, cần có khuôn ngực nở nang rám nắng để tựa đầu vào đấy, và để cho hắn hôn nhẹ chứ không lắc đầu khi hắn xin được hôn tôi lên trán trước khi ra đi; cũng như không cần những lá thư hắn vẫn gửi về đều đặn, luôn nhớ những ngày nơi quê nhà có cô Bắc Kỳ nho nhỏ và loài hoa thanh kiếm cùng những cánh diều chấp chới mà cần hắn ở cạnh, luôn cần hắn. Bao mùa hoa qua đi, tôi từng ra vệ sông thả cánh hoa thanh kiếm để mong nó trôi về biển về nơi xa ngái có hắn. Bao mùa hè dần đến, tôi lên ngôi cổ tháp nhìn những cánh diều no gió bay phấp phới mà nghĩ về hắn. Tôi đã mười tám tuổi và thực sự yêu hắn, yêu thực sự khi đầu tiên gặp hắn trên đỉnh tháp Nhạn, lúc ấy tôi chỉ mười lăm tuổi !

Huỳnh Thạch Thảo

.
.
Các tin khác
.
.
.