Nắng hôm ấy màu hồng

;
Chủ Nhật, 07/07/2019, 14:17 [GMT+7]

Đây là lần đầu tiên tôi đến Tây Nguyên, giống như trong trí tưởng tượng của tôi, xe đi qua những con đường nhựa rộng thênh thang mỗi lúc một cao dần cho đến khi những hàng thông xuất hiện hai bên đường thì tôi biết tôi đã ở một nơi cao hơn biển rất nhiều.

Nhưng không giống những gì mà tôi nghĩ về cao nguyên, trời nắng rực rỡ, không có mây, không có gió và không có chút hơi lạnh nào. Khi xe dừng lại ở đầu một con dốc, cạnh một hồ nước nhỏ, mặt nước lấp lánh ánh mặt trời làm tôi phải nhắm mắt lại nhưng cũng kịp nhìn thấy người đàn ông bước lên xe cùng lúc với những tiếng chào của các bà bạn tôi. “Chào Cha”. “Chào Cha ạ”. “Dạ, chào Cha Khiêm”. “Xin chào các bà”. Giọng nói của người đàn ông làm tôi giật mình. Giọng nói rất quen, cùng chiếc bê rê đen trên một gương mặt rám nắng có nụ cười rộng, rất tươi và chiếc áo khoác màu lông chuột, người đàn ông ấy như bước ra từ trong ký ức. Một thoáng tôi đã hiếu vì sao Ngà đã cố rủ tôi đi theo cho bằng được.

Tôi có một nhóm bạn thân chơi với nhau từ hồi mười mấy tuổi, trải qua nhiều năm tháng tình bạn ấy còn nguyên để thỉnh thoảng cùng nhau đi, khi thì vài ngày ở Đà Lạt như một cách tìm thăm kỷ niệm hoặc đến một nơi chốn mới để tìm hiểu về nơi mà mình chưa biết. Lần này không đơn thuần là đi chơi, chúng tôi theo một lời kêu gọi đến thăm và phát quà ở một buôn làng có nhiều gia đình bị đói kém vì mất mùa do nắng kéo dài. Người dẫn đường là Cha Khiêm mới vừa bước lên xe. Theo phản xạ tự nhiên tôi thu người vào một góc nhưng vẫn hướng sự chú ý của mình về phía người đàn ông mới đến.

Từ đường lớn rẽ vào, xe phải chạy thêm gần hai mươi cây số theo lời hướng dẫn của Cha Khiêm, con đường nhỏ dần đầy ổ gà, ổ voi rồi dừng trong sân của một ngôi nhà thờ. Đó là một ngôi nhà gỗ đơn sơ, nhiều tấm ván đã cũ rơi xuống, chỗ đó không có bàn ghế để làm nơi thờ phụng, được cái sân rộng phía trước có xếp nhiều hàng ghế nhựa là chỗ để các con chiên ngồi nghe Cha xứ giảng đạo. Tôi xuống xe sau cùng và cũng chọn chỗ khuất để giấu mình, từ chỗ  ấy tôi có thể nhìn thấy Cha Khiêm đang đứng trên bệ cao nói vài lời cảm ơn với đoàn thiện nguyện và khi mọi người bắt đầu phân phát quà cho người dân trong buôn thì tôi cũng chen vào sau những bao gạo để không ai nhìn thấy.

Nhưng Ngà vẫn hiểu ý tôi, cô ấy đến gần đẩy tôi về phía trước và nói nhỏ “bà chào Cha Khiêm một tiếng chứ”. Tôi lắc đầu bước về phía bầy trẻ nhỏ đang chờ được phát những viên kẹo, vì bước nhanh nên tôi va phải một người đang đi về phía mình. Tôi ngước lên và vướng phải ánh mắt sau cặp kính của Cha Khiêm, trong thoáng chốc tôi bỗng thấy lại hình ảnh của những ngày tháng cũ mà đã lâu tôi không nhớ lại.

Năm ấy tôi vào đại học, tôi chọn Đại học Đà Lạt chỉ vì quá yêu thành phố mù sương ấy. Tôi cùng ba bạn nữa thuê một căn phòng nhỏ trong căn biệt thự có cái sân sau nhìn ra thung lũng dày đặc những giàn su su lúc nào cũng trĩu trái. Bốn đứa con gái ngày ngày cùng nhau lên giảng đường, ngày nghỉ rủ nhau ra đồi Cù, học bài thì ít mà để lăn lê trên bãi cỏ xanh mượt thì nhiều. Đà Lạt thuở ấy hầu như ngày nào cũng lạnh, nhất là những buổi chiều khi mặt trời vừa nghiêng bóng đã thấy cái lạnh se se luồn vào từng chân tóc. Bốn đứa con gái co ro trong cái áo khoác mỏng tang mang từ Nha Trang, hai bàn tay không biết giấu vào đâu nên lạnh ngắt. Đó là những ngày tháng đẹp nhất trong đời sinh viên của bọn tôi, những đứa bạn trai cùng lớp sợ mấy đứa con gái nhớ nhà nên cứ vài ba buổi tối là mang đàn tới nhà trọ đàn hát cho bạn đỡ buồn. Dần dần chúng tôi có thêm một số bạn mới để cùng rủ nhau đi học, rủ nhau tham gia những phong trào văn nghệ, báo chí của trường. Khiêm là một người bạn như thế.

Tôi gặp Khiêm lần đầu tiên vào đêm sinh nhật của Ngà, dù trước đó tôi có biết Khiêm ở mấy lần Khiêm đàn hát trên sân khấu của trường. Vóc người cao lớn, đẹp trai và dáng vẻ phong trần lại đàn hát rất hay, Khiêm là lực hút các cô gái ở bất cứ đâu và tôi chỉ nhìn Khiêm từ xa, tôi không nghĩ ra là có một ngày Khiêm đến gần bên tôi, làm quen với tôi. Sinh nhật của Ngà diễn ra ở mảnh sân nhỏ, buổi tối làm cho cái thung lũng chỉ là một vùng tối đen ngòm, trong ánh nến lung linh nổi bật cái bàn nhỏ có một chiếc bánh sinh nhật mà tôi không nhớ ai đã mang tới, chỉ nhớ nhỏ Ngà cảm động, mắt long lanh, nụ cười méo xẹo nói lời cảm ơn hình như có đọng chút nước mắt trong đó.

Sau những lời chúc mừng sinh nhật thì đêm là của tiếng đàn tiếng hát. Hôm đó là lần đầu tiên tôi nhìn Khiêm ở khoảng cách gần nhất, áo khoác màu lông chuột, bê rê đen, Khiêm ôm đàn hát nhạc Trịnh Công Sơn theo yêu cầu của bạn. Tôi ngồi ôm gối trong một góc thấy lòng mình mềm theo tiếng hát của Khiêm cho đến khi nghe Khiêm gọi tên mình: “Hạ hát một bài nhé!”.

Tôi đã nhiều lần hát trước đám đông nhưng chỉ có lần đó làm tôi nhớ, nhớ đến không thể nào quên, Khiêm đàn cho tôi hát - “Màu nắng hay là màu mắt em. Mùa thu mưa bay cho tay mềm. Chiều nghiêng nghiêng bóng nắng qua thềm. Rồi có hôm nào mây bay lên”... Tôi thấy mình chìm trong tiếng hát và chìm cả trong ánh mắt của Khiêm, từ đó cho đến về sau tôi không bao giờ tìm thấy được cảm giác trong lòng mình như lúc đó để cho mỗi lần nhớ lại thấy tê dại cả người.

Chúng tôi đến với nhau như thế, bất ngờ và ngẫu nhiên. Năm ấy tôi còn rất trẻ, tôi hồn nhiên đón nhận tình yêu lớn dần lên và thấy con tim mình trở nên chật chội, tôi còn quá trẻ để suy nghĩ nhiều hơn, chỉ thấy vui khi gặp Khiêm và nhớ nếu vắng Khiêm ít ngày. Khiêm cũng không có gì nhiều để nói với tôi, thỉnh thoảng anh đón tôi khi tan trường, cùng đi qua những con dốc có những hàng thông đẫm mùi sương. Có những lần đi học vội vàng tôi quên mang áo khoác thì anh mang áo chờ sẵn trước cổng trường với cái gõ nhẹ vào trán. Một hôm nào đó tôi bệnh vì gặp mưa trên đường về nhà, gặp lúc bạn bè đi học, tôi một mình nằm co ro trong mền chịu lạnh, chịu sốt, nước mắt tèm lem vì tủi thân thì anh đến. Tôi cứ nhớ mãi đến tô cháo thịt băm đầy hành lần đó cũng như nhớ những chăm sóc nho nhỏ anh dành cho mình mà thấy càng ngày mình càng yêu anh nhiều hơn.

Tôi chờ ở Khiêm một lời hứa hẹn để nói cho anh nghe mơ ước về một ngôi nhà có đầy hoa trên một con dốc nào đó ở thành phố trên cao ấy. Nhưng Khiêm lúc gần, lúc xa chu đáo chăm sóc tôi mà chưa hề nói lên những điều tôi mong đợi. Thỉnh thoảng Khiêm lại vắng mặt ít ngày rồi trở lại với nụ cười hình như càng lúc càng hiếm hoi, với chỉ là những cái lắc đầu khi tôi hỏi vì sao. Đến một ngày anh lặng thinh mất tăm. Tôi quay quắt nhớ, quay quắt lo sợ, quay quắt chờ trông nhưng  anh như hòa tan trong thành phố đó hoàn toàn, tôi không thể biết tin gì về anh từ bạn bè. Năm học đó tôi suýt thi hỏng nhưng cũng nhờ vất vả thi lại vài môn học mà tôi dần dần lấy lại thăng bằng để tiếp tục học cho đến ngày tốt nghiệp. Trong đêm văn nghệ từ giã trường học tôi hát lại bài Nắng thủy tinh của Trịnh Công Sơn, “Ngày xưa sao lá thu không vàng. Và nắng chưa vào trong mắt em”. Tôi hát mà nhớ Khiêm da diết và biết rằng mình chưa hề quên anh. Mấy ngày sau tôi từ giã Đà Lạt. Trước khi về, Ngà đã nói cho tôi nghe một bí mật mà cô ấy giữ kín bấy lâu, Khiêm đã là một linh mục, năm đó Khiêm về nhà thờ chịu lễ khấn trọn đời sau hai năm thử thách.

Từ bấy đến nay đã hơn 40 năm trôi qua, chúng tôi không hề có một lần gặp lại nhau. Tôi vẫn là tôi, không hề rung động với ai sau mối tình thơ dại đó. Và Khiêm, không biết Khiêm ở nơi nào, đã đi đâu, dừng lại chỗ nào trong cuộc đời này. Cho đến hôm nay.

Đôi mắt Cha Khiêm lấp lánh sau cặp kính đã in đầy dấu thời gian nhưng nụ cười vẫn rộng mở khoe hàm răng thật đều, chỉ một thoáng mà tôi nhớ lại những gì mình đã lâu không nhớ lại. Nhưng Cha Khiêm như không nhìn thấy tôi bối rối, cha mời mọi người về chỗ của mình để ăn trưa, nhà thờ nằm trên một ngọn đồi; ở chỗ này nhìn xuống thấy những con đường nhỏ như cây thước kẻ. Bữa cơm được hai thanh niên trong làng giúp Cha Khiêm chuẩn bị, Cha Khiêm tay bưng chén, tay cầm đũa chạy lăng xăng từ bàn này qua bàn kia để tiếp khách. Cha Khiêm nói, ở đây xa lắm không dễ để các bà trở lại lần nữa đâu nên ăn nhiều vào cho nhớ lâu nhé.

Sau khi cơm nước xong Cha Khiêm mời các bà trong đoàn hát karaoke, nghỉ ngơi một chút trước khi ra về, nhưng không ai hát chỉ đua nhau kêu, Cha hát đi Cha. Cha Khiêm chọn một bài hát của Vũ Thành An. “Nhớ rất nhiều câu chuyện đó, ngỡ như là ngày hôm qua. Ôi ước ao có một ngày được gặp em, hỏi chuyện em lần cuối cùng. Vẫn con đường, con đường cũ. Vẫn ngôi trường ngôi trường xưa”... Giọng hát vẫn ấm như ngày nào, mọi người vỗ tay tán thưởng, mấy bà lại lao nhao, “Cha hát hay quá Cha ơi, chắc ngày xưa có khối cô mê mệt hả Cha”. Cha Khiêm cười, nụ cười hồn hậu nhưng rất đời. “Ờ, ngày xưa cũng có yêu một người, bây giờ thì yêu nhiều người hơn rồi”. “Hát nữa đi Cha ơi, mấy bà này không ai mê mệt đâu nhưng thích nghe Cha hát vì Cha hát hay lắm”. “Lùa nắng cho buồn vào tóc em, bàn tay xanh xao đón ưu phiền”... Cha Khiêm đang hát thì húng hắng ho, tôi cầm lấy chiếc mic trên tay Cha, hát tiếp theo cho kịp tiếng nhạc, “Ngày xưa sao lá thu không vàng. Và nắng chưa vào trong mắt em”...

Cho đến khi chào từ giã, Cha Khiêm và tôi cũng không nói riêng với nhau lời nào, trong đoàn, trừ Ngà ra, cũng không ai biết chúng tôi từng quen nhau, nhưng chỉ một thoáng nhìn vào mắt nhau tôi biết Cha Khiêm cũng vừa nhớ lại những ngày xưa ấy như tôi. Chiếc xe chầm chậm leo xuống con dốc. Tôi nhìn lại thấy Cha Khiêm vẫn còn đứng ở cổng hai tay đưa cao vẫy theo, biết là Cha Khiêm không nhìn thấy nhưng tôi vẫn vẫy tay chào. Xin chào người năm cũ và xin cảm ơn. Cảm ơn người vẫn không quên dù bao nhiêu năm tháng đã đi qua cùng những thanh xuân ngày ấy.

Hôm ấy hình như nắng có màu hồng.

LƯU CẨM VÂN

.
.
Các tin khác
.
.
.