Trường Sa, Hoàng Sa qua mộc bản triều Nguyễn

;
Chủ Nhật, 16/07/2017, 07:34 [GMT+7]

Trong số 34.619 tấm mộc bản triều Nguyễn – Di sản tư liệu thế giới, hiện được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc  gia IV – Đà Lạt, có rất nhiều bản khắc liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa...

Mộc bản triều Nguyễn ghi rõ: “Cương giới mặt biển nước ta có đảo Hoàng Sa rất là hiểm yếu.”
Mộc bản triều Nguyễn ghi rõ: “Cương giới mặt biển nước ta có đảo Hoàng Sa rất là hiểm yếu.”

Về vị trí của quần đảo Hoàng Sa, mộc bản sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 6, mặt khắc 18 ghi rõ: “Đảo Hoàng Sa: ở phía Đông đảo Lý (Cù Lao Ré). Từ bờ biển Sa Kỳ đi thuyền ra, thuận gió thì độ 3, 4 ngày đêm có thể đến nơi, trên đảo quần tụ rất nhiều núi, có đến hơn 130 đảo nhỏ cách nhau hoặc một ngày đường, hoặc mấy trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục gọi là bãi “Vạn Lý Trường Sa” (Bãi cát dài vạn dặm), trên đảo có nguồn nước ngọt chảy ra, chim biển quần tụ…”.

Với ý thức giữ gìn biển đảo thiêng liêng của tổ quốc, các triều đại Việt Nam, trong đó có vương triều Nguyễn, đã hết sức đề cao, coi trọng việc thực thi chủ quyền. Năm Tân Mão (1711), chúa Nguyễn Phúc Chu đã phái người ra Trường Sa đo đạc. Trong mộc bản sách Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 8, mặt khắc 10 ghi rõ: tháng 4 mùa hạ, năm Tân Mão (1711): “Sai người đi đo đạc bãi biển Trường Sa, chiều dài, ngắn, rộng, hẹp là bao nhiêu”.

Dưới thời các chúa Nguyễn, đội Hoàng Sa được thành lập, đây  được xem là sự sáng tạo độc đáo của phương thức xác lập và thực thi chủ quyền của nước nhà đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đến Nguyễn Ánh lên ngôi (1802), ông là người có ý thức sâu sắc về giá trị và tầm quan trọng của biển đảo, đã để tâm ngay đến việc tái lập đội Hoàng Sa. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 22, mặt khắc 2 có ghi: tháng 7, năm Quý Hợi (1803): “Lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”. Vua đã phái đội Hoàng Sa ra đảo thám đạc thủy trình, mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 50, mặt khắc 6 có ghi: tháng 2, năm Ất Hợi (1815), vua “Sai đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang Ảnh ra đảo Hoàng Sa thăm dò, đo đạc thủy trình”. Trên cơ sở của các cuộc thăm dò đường biển đến đảo Hoàng Sa, tiếp nối sự nghiệp của vua cha, vua Minh Mạng đã nhiều lần phái người ra vẽ bản đồ của đảo. Có thể nói, hoạt động thực thi chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa dưới triều vua Minh Mạng đã phát triển cao và toàn diện hơn so với trước đó. Năm Quý Tỵ (1833), vua Minh Mạng đã chủ trương đưa người ra Hoàng Sa dựng miếu, trồng cây và cắm mốc chủ quyền quốc gia. Các năm sau đó, vua Minh Mạng tiếp tục phái người ra dựng miếu, lập đền, dựng bia đá… Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 154, mặt khắc 4 ghi rõ: tháng 6, năm Ất Mùi (1835): “Dựng đền thờ thần ở đảo Hoàng Sa – Quảng Nghĩa. Hoàng Sa ở hải phận Quảng Nghĩa, có một cồn cát trắng, cây cối xanh um. Giữa cồn cát có giếng, phía tây nam có miếu cổ, có tấm bài khắc bốn chữ: “Vạn Lý Ba Bình – có nghĩa: Vạn dặm sóng êm”. Cồn Bạch Sa (tức “Cồn cát trắng”) có chu vi 1.070 trượng, tên cũ là núi Phật tự, bờ phía đông, tây, nam, đều có đá san hô vòng quanh mặt nước, phía bắc tiếp giáp với một cồn toàn đá san hô, nổi lên sừng sững, có chu vi rộng 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, sánh cùng với đồi cát gọi là bàn than thạch” (bãi đá lớn).

Năm ngoái, vua đã đến nơi này để dựng miếu lập bia, nhưng vì sóng to gió lớn nên không làm được. Đến đây bèn sai Cai đội thủy quân Phạm Văn Nguyên đem lính thợ Giám thành cùng với phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định vận chuyển vật liệu đến dựng miếu (cách miếu cổ 7 trượng). Bên trái miếu dựng bia đá, phía trước miếu dựng bình phong, mươi ngày làm xong rồi về”.

Hoàng Sa, Trường Sa là nơi hiểm yếu,  án ngữ con đường giao thương trên biển, nhiều tàu thuyền nước ngoài đã bị gặp nạn. Xuất phát từ truyền thống nhân ái của dân tộc, đồng thời thực thi trách nhiệm và nghĩa vụ của nước có chủ quyền trên biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Triều đình cũng như ngư dân vùng biển đã nhiều lần cứu hộ tàu, thuyền nước ngoài gặp nạn ở Hoàng Sa. Năm Canh Dần (1830), thuyền buôn của Pháp bị mắc cạn và đắm tại phía tây đảo Hoàng Sa, viên Thủ ngự cửa biển Đà Nẵng đã ra lệnh cho thuyền của cảng mang theo nước ngọt ra biển tìm kiếm, hộ tống những người gặp nạn trên biển đưa về cảng an toàn…

Hành xử chủ quyền bằng hoạt động cứu hộ trên đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn được khắc ghi trong mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 176, cho biết: “Mùa đông, tháng 12, năm Bính Thân (1836), thuyền buôn Anh Cát Lợi đi qua Hoàng Sa, mắc cạn, bị vỡ và đắm, hơn 90 người đi thuyền sam bản đến bờ biển Bình Định.

Vua nghe tin, dụ: Cho các tỉnh thần lựa nơi cho họ trú ngụ, hậu cấp tiền và gạo. Lại phái thị vệ thông ngôn đến phiên dịch để gửi lời thăm hỏi, tuyên chỉ ban cấp. Bọn họ đều quỳ dài, khấu đầu không thôi. Sự cảm kích biểu lộ ra lời nói và nét mặt. Phái viên về tâu.

Vua nói: “Họ, tính vốn cứng đầu, kiêu ngạo, nay được đội ơn, bỗng cảm hóa đổi được tục man di, thật rất đáng khen”. Sai thưởng cho thuyền trưởng và đầu mục mỗi người 1 áo đoạn vũ hàng màu, 1 quần vải tây và 1 chăn vải, những người tùy tùng mỗi người 1 bộ quần áo bằng vải màu. Sắc sai phái viên sang Tây là Nguyễn Tri Phương và Vũ Văn Giải đưa họ sang đầu bến tàu Hạ Châu, cho về nước”.

Qua những thông tin khắc trên tài liệu mộc bản triều Nguyễn, thêm một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn có cơ sở pháp lý. Việc các triều đại nhà Nguyễn tổ chức cho các hải đội ra đảo Hoàng Sa để thăm dò, khai thác, cắm mốc bảo vệ chủ quyền là một việc làm hợp pháp đã được các triều đại phong kiến Trung Quốc thừa nhận.

Có thể nói, mộc bản triều Nguyễn tư liệu, chứng cứ quan trọng, có giá trị lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Nhà nước ta. Đây là di sản quốc gia của Việt Nam, là nguồn tư liệu có giá trị cao để khẳng định một cách trực tiếp và mạnh mẽ chủ quyền của vương triều Nguyễn Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa.

THƠM QUANG

.
.
.
.
.
.