Khi tiếng trống chiêng lặng dần

;
Chủ Nhật, 05/11/2017, 06:55 [GMT+7]

Trong văn hóa lễ hội của dân tộc Cơ Tu (ở tỉnh Quảng Nam), tiếng trống chiêng không thể thiếu, nó là phần khai hội và kết hội quan trọng của lễ nghi. Tuy nhiên, hiện nay, số người biết sử dụng trống chiêng, nhất là chiêng, thanh la (cơ bhoor) còn rất ít, đặc biệt trong thế hệ trẻ.

Nhiều đội trống chiêng “nhí” thành lập nhưng thiếu dụng cụ trống, chiêng, thanh la, một phần do không có kinh phí đầu tư, nên khi biểu diễn phải lấy vật dụng soong nồi để “minh họa”. Trong ảnh: Đội trống chiêng “nhí” thôn Bhơ Hôồng, xã Sông Kôn, Đông Giang. Ảnh: BRIU QUÂN
Nhiều đội trống chiêng “nhí” thành lập nhưng thiếu dụng cụ trống, chiêng, thanh la, một phần do không có kinh phí đầu tư, nên khi biểu diễn phải lấy vật dụng soong nồi để “minh họa”. Trong ảnh: Đội trống chiêng “nhí” thôn Bhơ Hôồng, xã Sông Kôn, Đông Giang. Ảnh: BRIU QUÂN

Nguy cơ lặng dần nhịp chiêng

Theo tìm hiểu, mỗi khi làng có hội, đồng bào Cơ Tu phân công người đánh trống, đánh chiêng để các mẹ già, chị em nữ múa da dá, những chàng trai còn lại tham gia múa điệu tâng tung quay quanh cột x’nur. Nhịp trống chiêng có nhiều điệu, trong đó có nhịp điệu tâng tung da dá, pr’lư, tr’ghếch… Trước đây, theo quan niệm chung của cộng đồng làng, trống chiêng là báu vật của làng được cất giữ tại gươl, nghiêm cấm tuyệt đối mọi người đánh trống, gõ chiêng khi không có hội làng, ai đã phạm lệ làng thì tự giác mang heo nhà vào gươl tạ lỗi (tục này hiện ở một vài nơi vẫn còn duy trì, chủ yếu những làng xa xôi, hẻo lánh). Những người trẻ tuổi thì tuyệt đối không được sờ mó đến “báu vật” của làng, dễ bị thần linh quở mắng, gây ngứa ngáy toàn thân, người Cơ Tu gọi là dang tắ. Bởi vậy, trống, chiêng chỉ dành cho người lớn tuổi, có kinh nghiệm, biết vận dụng hài hòa nhịp điệu giữa trống và chiêng để có tiết tấu sôi nổi, du dương, trầm hùng, vang vọng khắp núi rừng.

Miền núi mùa này đang mùa thăm thân (r’dáo), tiếng trống chiêng mừng đãi khách thăm nhà, đó là những âm thanh được phát ra từ bàn tay cằn cỗi qua bao mùa rẫy của các cụ già. Còn đám trai làng thì chúc tụng nhau bằng những tiếng hô không dài hơn sải tay của già làng, bỏ quên cái du dương, bay bổng, rộn rã của nhịp trống chiêng hội làng.

Ngày nay, tiếng trống nhịp chiêng vẫn được đồng bào Cơ Tu duy trì trong các lễ hội của làng, hộ gia đình, chủ yếu lễ đâm trâu cúng đất làng, cưới hỏi, thăm thân. Nhưng người đánh trống, gõ chiêng thì không còn được như xưa. Một thế hệ gạo cội vốn am hiểu tường tận nhịp điệu trống chiêng của dân tộc Cơ Tu đã mất đi.

Trong một lần dự lễ mừng gươl mới ở một thôn của huyện miền núi Đông Giang, cả một dàn đội trống chiêng không phải là thanh niên của làng, chỉ có múa tâng tung da dá là người bản địa. Đem thắc mắc này trao đổi với trưởng thôn, vị trưởng thôn này cho biết, thế hệ trẻ bây giờ không ai biết đánh trống chiêng nên phải nhờ thanh niên làng bên cạnh qua đánh giúp. Một phần nữa, do trống chiêng trong làng không ai có, phải đi mượn, người lớn cũng không ai chịu khó làm trống, chỉnh chiêng như trước đây để truyền dạy cho thế hệ trẻ sau này.

Trong thời gian gần đây, trên mạng xã hội Facebook lan truyền video quay cảnh đồng bào Cơ Tu ở một huyện miền núi của Quảng Nam tổ chức múa tâng tung da dá. Theo dõi đoạn video không ít người bình luận, chê trách khi tiếng trống chiêng được thay bằng thùng đựng sơn, thau nhôm, nồi nấu cơm đánh cho có tiếng, múa cười nghiêng ngả quanh cột x’nur. Đoạn video nói lên rõ thực trạng tại các thôn của đồng bào Cơ Tu thiếu đi nhạc cụ trống, chiêng, thanh la, đồng bào dường như không ai còn mặn mà đến loại hình sinh hoạt cộng đồng này. Mà khi cái trống, cái chiêng không còn tồn tại thì đồng nghĩa điệu múa tâng tung da dá, vốn được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cũng sẽ có nguy cơ lịm tắt dần ở ngay nơi sản sinh ra nó.

Nỗ lực cứu vãn

Trước thực trạng trên, các huyện miền núi có đồng bào Cơ Tu sinh sống cũng đã ra sức giữ gìn và phát huy các lễ hội, nhạc cụ truyền thống. Riêng nghệ thuật trình tấu trống chiêng chủ yếu do những người dân giữ gìn được dụng cụ trống, chiêng, thanh la... tự phát huy, còn những thôn không có thì mượn, nhưng ít được bằng lòng của gia chủ vì sợ rằng dễ làm hỏng trống, nhất là chiêng và thanh la sẽ mất đi âm điệu du dương.

Ở huyện biên giới Tây Giang, một số trường học đã thành lập đội trống chiêng do các em học sinh tập luyện, biểu diễn, song chưa có ai đứng ra hướng dẫn, truyền dạy thường xuyên nên việc tập luyện cũng rời rạc, lúc có lúc không. Trên địa bàn xã Lăng (huyện Tây Giang), thôn Bhơ Hôồng (xã Sông Kôn, huyện Đông Giang) cũng thành lập được đội múa trống chiêng trẻ em, trực tiếp tham gia biểu diễn tại các lễ hội của xã và huyện, thu hút đông đảo người dân đến xem và cổ vũ.

Thiết nghĩ, để cứu vãn văn hóa miền núi, giữ tiếng trống, nhịp chiêng, chính quyền các địa phương miền núi cần có cái nhìn sâu hơn về đầu tư bảo tồn di sản phi vật thể. Trong di sản múa tâng tung da dá, nếu không có cách tiếp cận và định hình chung, thì chắc rằng cái trống, cái chiêng cũng sẽ bị thay thế bằng những thau nhôm, thùng sơn vứt bỏ, để rồi thế hệ trẻ cũng chẳng có cơ hội sờ mó dụng cụ trống chiêng trên gươl làng và cả người lớn tuổi cũng chẳng ai còn quở mắng chúng như ngày nào…

BRIU QUÂN

.
.
.
.
.