Ché của người Cơ Tu

TRẦN KỲ PHƯƠNG - NGUYỄN THƯỢNG HỶ |

Trong văn hóa Cơ Tu, cái ché mang nhiều biểu tượng, nó là sợi dây liên kết giữa tổ tiên với người sống cho tới người chết. Với người Cơ Tu, ché là để “làm của”, khẳng định sự giàu sang và địa vị trong xã hội. Cái ché tham gia hầu hết sinh hoạt chủ yếu trong xã hội, từ hôn nhân đến tang tế.

Người Cơ Tu quan niệm cái ché (jớ/chớ) như một vật thiêng (jớ ring), vì vậy, họ có nhiều nghi thức để cúng ché (bhuôil  jớ). Khi mua được một cái ché mới, họ tổ chức một lễ nhỏ để cúng mừng ché (bhuôil kâl jớ), vật cúng chỉ là một con gà và một chai rượu để thiết đãi bà con quanh xóm; nếu mua được một cái ché quý, thì vật cúng có thể là một con heo và vài ché rượu để mời cả làng; và khi bán một cái ché, người Cơ Tu cũng làm lễ cúng tiễn ché (bhuôil tr’xâl jớ).

Ché được dùng để cất chứa các vật quý như mã não, hạt cườm, và vải dệt thổ cẩm (azuông); các vật quý này được cất giữ trong ché để tránh bị côn trùng, chuột hoặc các loài thú khác cắn phá. Ngoài ra, ché còn được dùng để ủ rượu và đựng rượu.

Thanh niên Cơ tu hãnh diện vác cái ché múa trong lễ đâm trâu. Ảnh: T.K.Phương
Thanh niên Cơ tu hãnh diện vác cái ché múa trong lễ đâm trâu. Ảnh: T.K.Phương

Già làng A Tùng Vẽ (làng Gừng, thị trấn Prao, huyện Đông Giang) cho biết, gia đình ông có một cái ché quý do ông bà để lại, trong thời chiến tranh, khoảng những năm 1960, bộ đội địa phương đã mượn cái ché của gia đình ông để đựng muối. Cái ché được giấu trong hang núi để tránh bom đạn; sau chiến tranh, cho đến đầu những năm 1980, ông vẽ và anh ông đã lên núi tìm lại cái ché mang về cho gia đình. Hiện gia đình ông gìn giữ cái ché này như vật gia bảo, vì nó đã được truyền qua nhiều đời. Khi đem cái ché từ hang núi về lại gia đình, ông đã làm lễ cúng ché để cảm tạ thần linh (abhuoi) đã gìn giữ cho ché còn nguyên vẹn. Chúng tôi đã được ông cho xem cái ché quý, đó là một cái ché cũ bằng sành, màu nâu, có kích thước lớn, xương gốm dày và nặng. Chúng tôi tham vấn bà Louise Cort, một chuyên gia về gốm sứ Đông Nam Á ở Bảo tàng Sackler Gallery, Washington, D.C., về cái ché quý của ông A Tùng Vẽ. Bà Louise Cort cho biết, cái ché này sản xuất vào đầu thế kỷ 20 tại một lò gốm ở Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Theo ông A Tùng Vẽ, ché quý (jớ ti) không nhất thiết phải là ché có niên đại cổ xưa, mà đôi khi là một cái ché được nổi tiếng trong cộng đồng là ché thiêng (jớ ring).

Ông A Tùng Vẽ và cái ché quý của gia đình.
Ông A Tùng Vẽ và cái ché quý của gia đình.

Trong hôn nhân, ché là một vật dẫn cưới quan trọng của người Cơ Tu, nó là tài sản phải có khi làm lễ đính hôn và lễ cưới. Khi một gia đình muốn “bắt vợ” cho con trai thì phải có ít nhiều ché để làm sính lễ; nhà trai càng giàu thì phải trả càng nhiều ché theo tục lệ thách cưới, đòi sính lễ (panooih) của nhà gái.

Cái ché có liên quan mật thiết với phong tục uống rượu của đồng bào. cũng như các dân tộc khác ở miền Thượng, người Cơ Tu uống rượu không chỉ để giải trí, mà để tạo mối liên kết, thảo luận, bàn bạc các vấn đề liên quan đến cộng đồng hoặc của cá nhân; rượu kết nối giữa con người với con người trong các sinh hoạt xã hội và giữa con người với thần linh trong các nghi lễ. Rượu có mặt trong tất cả sinh hoạt chính trong xã hội Cơ Tu như lễ hội, cúng tế, kết nghĩa, cưới hỏi, giao tiếp, tang lễ… Vì thế, có thể nói rằng nếu không có cái ché, thì nghi thức uống rượu của người Cơ Tu (um buah) và của các sắc tộc miền Thượng, chắc chắn không thể hoàn mỹ.

Trong tang lễ, ché được chôn theo người chết theo tục “chia của cho người chết” (xi noor) của người Cơ Tu; trong trường hợp này, cái ché phải bị đục thủng ở đáy, gọi là “giết cái ché” (pacệt jớ) để chôn quanh nhà mồ (ping).  

Ngoài công năng thực dụng, đối với đồng bào miền Thượng, ché là một tác phẩm nghệ thuật, nên việc lựa chọn ché để sưu tập đòi hỏi năng lực thưởng lãm nghệ thuật cao; phải là những người sành điệu thì mới có thể phân biệt được ché cổ và ché mới hoặc thưởng lãm được vẻ đẹp của các loại ché. Người Cơ Tu phân chia ché thành nhiều loại như, ché cổ (jớ ti), ché mới (jớ ngướp), ché màu vàng nâu (jớ jaroong), ché màu vàng nâu nhỏ (jớ tr’loi), ché màu nâu có điểm hạt cườm (jớ a’jrai), ché có hình rồng (jớ k’roong)… trong đó, loại jớ a’jrai là quý hơn.

Georges Condominas - nhà nhân học người Pháp, đã so sánh rằng, sự tích lũy ché quý của các dân tộc miền Thượng, là một hành động văn hóa tương tự với các nhà sưu tập nghệ thuật ở phương Tây.

Trong nghệ thuật điêu khắc, bước vào những ngôi nhà làng hay gươl của người Cơ Tu, chúng ta thường thấy hình tượng của cái ché được trang trí trang trọng trên cột cái (j’răng măng) của gươl; ché cũng được ưa thích chạm khắc trên đầu cột đâm trâu (xanur); và nó cũng được trang trí phổ biến trên nhà mồ (ping).

Để có được những cái ché đẹp vừa ý, người Cơ Tu phải xuống các chợ vùng xuôi để trao đổi với những bạn hàng thân thiết/kết nghĩa (pr’đì noh) người Kinh. Trước kia, ở vùng Quảng Nam, người Cơ Tu thường gùi hàng xuống các chợ lớn như Hà Tân, Ái Nghĩa, Túy Loan… để đổi các loại ché, chiêng; ngược lại, các bạn hàng/“các lái” người Kinh cũng thường đem các mặt hàng cao cấp này lên tận các làng xa để bán/đổi cho họ.

Thông thường, ché đẹp hoặc quý được giới thiệu bởi các “mối lái”. Đó là những người trung gian (ađor lướt đơl) giới thiệu mặt hàng cao cấp này từ người Kinh tới người Cơ Tu hoặc giữa người Cơ Tu với nhau khi có nhu cầu trao đổi. Khi chọn được những cái ché “ưng bụng”, người Cơ Tu sẽ bàn cách mua ché hoặc đổi bằng sản phẩm rừng ngang giá hoặc trả bằng tiền mặt (trước kia đơn vị để trao đổi được tính bằng con trâu); nhiều khi họ mua chịu và trả dần thành nhiều đợt.

Trong một nghiên cứu, nhà dân tộc học Lưu Hùng đã nêu lên một trường hợp rất thú vị về sự lưu chuyển của một cái ché trong vòng hai mươi năm qua các cuộc hôn nhân. Đó là trường hợp của gia đình ông Alăng Pêếc, ở làng Prơning, xã Lăng, huyện Tây Giang, hiện sở hữu một cái ché mà lịch sử của nó được diễn ra như sau:
* Ông Bríu Trưng ở làng Arớ, xã Lăng, chỉ nhớ rằng cái ché này được mua về từ bên Lào. Ông đã thừa kế nó từ nhiều thế hệ trước. Vào khoảng giữa thế kỷ 20, nó trị giá một con trâu;
* Khoảng năm 1957 - 1958, ông Trưng cưới em gái của Pêếc và cái ché được dùng làm vật sính lễ. Từ đó, nó thuộc về gia đình ông Pêếc;
* Năm 1978, con trai của Pêếc cưới con gái của Clâu Nâm ở cùng làng, và cái ché được chuyển từ gia đình ông Pêếc qua gia đình ông Nâm;
* Năm 1979, em trai của Nâm cưới con gái của Coor Nhir ở cùng làng, và cái ché đã đi từ nhà ông Nâm sang nhà ông Nhir;
* Năm 1980, khi ông Nhir cưới em gái của Bríu Póh, và cái ché chuyển từ nhà ông Nhir sang nhà ông Poh;
* Năm 1981, khi ông Poh cưới chị gái của Alăng Pêếc, cái ché lại quay trở về nhà ông Pêếc sau hai mươi năm lưu chuyển qua ba gia đình khác nhau.

Theo nhà dân tộc học người Thụy Điển, Kaj Arhem, trong văn hóa Cơ Tu, cái ché (jớ) là vật chứa cái sống trong khi cái hòm (p’rang) là vật chứa cái chết; cả hai hiện vật đều được cất giữ trong cùng một ngôi nhà (đoong). Khi đến tuổi già người Cơ Tu thường được người thân chuẩn bị một cái hòm gỗ cho riêng mình và nó được cất giữ ở dưới nhà sàn. Arhem đã luận giải rằng, cái ché tượng trưng cho sự giàu có của dòng họ (drươp) cho nên chúng được cất giữ/trưng bày thành những hàng dài trên một cái kệ đóng ở lưng chừng vách sau đối diện với cửa vào (parah), là nơi trang trọng nhất của một ngôi nhà. Còn cái hòm tượng trưng cho cái chết cho nên nó được đặt trên mặt đất về phía sau vách nhà sàn, ở dưới và cách xa hàng ché. Cái ché tượng trưng cho sự sống nên được giữ “trong nhà” còn cái hòm tượng trưng cho sự chết nên đặt ở “ngoài nhà”; cách sắp đặt này phản ánh nhận thức theo vũ trụ luận nhị nguyên: lưỡng hợp - lưỡng phân, phân định sự vật theo xu hướng cặp-đôi-hỗ-trợ: cõi trên/trong <=> cõi dưới/ngoài…, một nhận thức phổ biến trong văn hóa của các cư dân miền Thượng và của cả vùng Đông Nam Á. Vì vậy, trong văn hóa Cơ Tu, cái ché mang nhiều biểu tượng, nó là sợi dây liên kết giữa tổ tiên với người sống cho tới người chết.

Cùng với cái chiêng (ching), ché là một trong những tài sản quý theo quan niệm của người Cơ Tu cũng như của đồng bào miền Thượng. Nếu chúng ta có một nền văn hóa cồng chiêng được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể; thì, theo nhiều nhà nghiên cứu, cái ché cũng là một di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc miền Thượng, nó cần được nghiên cứu sâu hơn và cần được bảo tồn theo đúng giá trị tinh thần và vật chất của chính nó.

TRẦN KỲ PHƯƠNG - NGUYỄN THƯỢNG HỶ