Góc nhìn lịch sử về Chùa Cầu

NGUYỄN THƯỢNG HỶ |

Ở góc nhìn lịch sử, Chùa Cầu luôn có nhiều chuyện thú vị. Cặp tượng khỉ - chó và ranh giới giữa phố người Nhật - người Hoa khởi đi từ Chùa Cầu là một ví dụ.

Chùa Cầu. Ảnh: PHƯƠNG THẢO
Chùa Cầu. Ảnh: PHƯƠNG THẢO

Ngày nay, có thể thấy còn hiện tồn các kiến trúc phía đông cầu Nhật Bản hầu như là kiến trúc của người Hoa với những hội quán, chùa... Và dường như, muốn vào phố của người Nhật phải qua cái cổng hay là đầu cầu Nhật Bản phía tây có cặp tượng khỉ canh giữ.

Đâu là ranh giới?

Các hoạt động thương mãi ở cảng thị Hội An, theo ghi chép của giáo sĩ C.Borri thì người Trung Quốc và người Nhật Bản làm thương mại chính và chúa Đàng Trong trước đây đã cho người Hoa và người Nhật Bản chọn địa điểm ở những nơi thuận lợi để lập thành phố cho tiện việc buôn bán.

Vậy phố của người Nhật Bản và phố của người Hoa là phố nào của Hội An  ngày nay? Nhiều nhận định, suy đoán của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, thậm chí chính các chuyên gia Nhật Bản cũng có nhiều ý kiến khác nhau.

Theo ý kiến của người viết bài này thì chính cây cầu Nhật Bản sau này thường gọi là Chùa Cầu là ranh giới của khu buôn bán của người Hoa và người Nhật Bản.

Ngày 16.8 tới, trong khuôn khổ Giao lưu văn hóa Hội An – Nhật Bản lần thứ 14, tại Hội An sẽ diễn ra Hội thảo khoa học quốc tế để tìm giải pháp trùng tu Chùa Cầu. Việc tu bổ Chùa Cầu luôn phải cẩn trọng và được tính toán kỹ lưỡng. Từ hội thảo này, Hội An mong muốn tìm kiếm giải pháp tối ưu trong công tác tu bổ, cũng như vấn đề sau khi tu bổ Chùa Cầu.

Hàng chục năm trước đã có đánh giá hiện trạng bấy giờ như nước bào mòn chân cầu nên móng bị nứt và nghiêng dẫn đến các mộng liên kết giữa cột và dầm ở phần trên của cầu bị hở. Năm 1986 mái Chùa Cầu từng được tu bổ. Và năm 1996 để chống xuống cấp cho cầu, chính quyền đặt ngưỡng ngăn cấm không cho xe máy đi qua.

Theo Viện Nghiên cứu văn hóa quốc tế, Trường Đại học Nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản): “Đặc trưng lớn nhất của cầu Nhật Bản chính là tên gọi của nó. Trước kia ở Hội An đã từng có phố người Nhật, nhưng những dấu tích còn lại để minh chứng cho điều này lại rất ít ỏi. Ngoài cầu Nhật Bản chỉ còn có 4 ngôi mộ của người Nhật và một ít dòng khắc trên bia đá ở gần khu vực Ngũ Hành Sơn. Với ý nghĩa như vậy cầu Nhật Bản là một trong ít ỏi những công trình tượng trưng cho giao lưu Nhật - Việt trong lịch sử. Công trình cầu Nhật Bản đã thu hút rất nhiều khách tham quan và trở thành một biểu tượng của Hội An cho dù nó không mang tên “cầu Nhật Bản” đi nữa thì đây vẫn là một công trình rất có giá trị. Năm 1719 khi chúa Nguyễn Phúc Chu tưởng nhớ đến những người bạn Nhật đã đặt cho chiếc cầu này cái tên Lai Viễn Kiều với ý nghĩa là chiếc cầu của những người phương xa đến.

Theo sự tích kể lại thì cầu được xây dựng vào năm 1593, nhưng không có cơ sở chính xác nào để khẳng định. Trong “Thiên Nam Chí Lộ Đồ” năm 1630 có ghi chữ “Hội An Kiều” ở trên mái). Ngoài ra niên đại ghi trên thượng lương của cầu là 1763. Nhiều khả năng đây là thời gian người ta tiến hành trùng tu cầu lần đầu tiên. Sau thời gian này cầu cũng đã được sửa chữa lại, những trang trí bằng mảnh sứ tráng men hay đĩa sứ là biểu hiện đặc trưng của kiến trúc thời Nguyễn (1802-1945).

Cho dù mang tên là cầu Nhật Bản nhưng khó có thể tìm thấy một dấu tích nào của kiến trúc Nhật Bản. Hai bên lối vào từ phía tây có hai tượng khỉ bằng đá và phía đông đặt hai tượng chó. Người ta truyền lại rằng, điều này nói lên cây cầu bắt đầu được xây dựng vào năm Thân và hoàn thành vào năm Tuất.

Có chi tiết mà tôi đã nghe nhiều người kể cả những hướng dẫn viên giải thích  về việc cặp tượng chó – khỉ thờ hai đầu cầu cũng được giải thích giống như trên. Năm 1995, khi thăm bảo tàng Fukuoka tôi thấy có hiện vật là hình tượng con khỉ làm hình thức lá bùa trước ngực trẻ em như lá bùa hộ mệnh - là các em nhỏ của các ngư nhân. Điều này cho tôi liên tưởng đến con khỉ đặt ở phía tây chùa Cầu. Trao đổi với kiến trúc sư Nhật khi về tu bổ phố cổ Hội An vào những năm 1996 (Đại học Nữ Chiêu Hòa), thì họ cũng cho rằng con khỉ là thú thiêng mang ý nghĩa như vật trấn yểm, lá bùa.

Về con chó, thì dễ hiểu vì  người Hoa xem là biểu tượng  với con vật mang đến tài lộc, may mắn. Nhiều ngôi nhà người Việt xưa cũng đã thờ.

Tôi cho rằng việc giải thích với câu chuyện  cầu Nhật Bản đã làm từ năm Thân (con khỉ) đến năm Tuất (con chó) mới hoàn thành  nên có vật thờ là con khỉ và con chó nghe hơi có gì khá… ngây ngô. Tạm thời tôi nhận định vùng đất mà chúa Nguyễn cấp cho người Nhật là nơi đầu cầu có cặp khỉ, nằm phía tây Chùa Cầu, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai. Và ngược lại phía đầu cầu bên kia - phía đông, nay là đường Trần Phú là khu phố của người Hoa với vật thờ là con chó mang đến nhiều tài lộc.

Căn cứ từ khảo cổ

Những điều nhận định  trên khó thuyết phục và phải nhờ đến những tư liệu, những bài viết chuyên ngành  khảo cổ học của các nhà khảo cổ học Nhật Bản vào năm 1993 - 1995. GS-TS. khoa khảo cổ Nhật Bản Kikuchi Seiichi, trong bài viết chi tiết về thành phần gốm sứ Hội An thế kỷ XVII đã nói kỹ điều này.

Bản vẽ về sứ Hizen.
Bản vẽ về sứ Hizen.

 Bài viết mở đầu về đồ gốm sứ tìm thấy tại di chỉ hình rãnh ở hố đào số 1 , số 2 và di chỉ hình sông ở hố đào số 2 tại đình Cẩm Phô (cách Chùa Cầu 250m về hướng tây). Căn cứ vào sự chuyển giao giữa các triều đại Minh - Thanh và chính sách ngoại thương, TS.Kikuchi Seiichi chia thành 4 thời kỳ về gốm sứ khác nhau. Tại địa điểm đình Cẩm Phô với di chỉ hình rãnh có niên đại thuộc thế kỷ XVII đã tìm thấy ngoài đồ gốm Việt, có đồ gốm sứ Trung Hoa và đồ sứ Hizen (gốm Nhật Bản). Về sự phân bố của mặt cắt ngang của hố đào số 1,2 thì gốm Trung Quốc nằm ở tầng dưới cùng và tầng giữa, còn đồ sứ Hizen  ở phía trên. Đồ sứ Trung Quốc thuộc dòng lò gốm Cảnh Đức Trấn, Phúc Kiến - Quảng Đông và Đức Hóa. Niên đại  xếp vào thời kỳ I. Về chủng loại gồm chậu, bát, đĩa, bình, nắp và siêu nước.

Gốm Hizen có niên đại vào thời kỳ thứ II, từ khoảng năm 1650 đến 1680 gồm các chủng loại chậu, bát đĩa, nắp và bình được tráng men hoa lam. Ở di chỉ hình sông cũng có đồ gốm Hizen nhưng hình như đồ đã hỏng phải vất đi và bị vùi lấp. Khi tiến hành đong đếm số lượng đồ gốm sứ cho ta biết tỷ lệ gốm sứ Trung Hoa chiếm đến 41%, đồ sứ Hizen chỉ 11% (hố số 1). Nhưng ở di chỉ hình sông gốm sứ Hizen tăng lên 19% và gốm sứ Trung Hoa là 32%. TS.Kikuchi nhận xét vào cuối thế kỷ XVII, xu hướng sử dụng đồ sứ tại Hội An đã chuyển sang từ đồ sứ Trung Hoa sang đồ sứ Hizen.  

Cũng nên nhớ rằng dẫu chính sách bế quan tỏa cảng của Mạc Phủ vào năm 1635 nhưng một số người Nhật vẫn dong thuyền để qua lại buôn bán và dần dần người Hoa thay thế người Nhật trong việc buôn bán. Và sau khi bỏ chính sách bế quan, người Hoa và Hà Lan tiếp tục chở gốm sứ Hizen (sản xuất tại lò Imari) từ Nhật Bản  đến Việt Nam.

Từ những thông tin quý giá, xác thực của những nhà khảo cổ học Nhật Bản kết hợp với kiến trúc của ngôi nhà cổ số 7 trong phố Nguyễn Thị Minh Khai - hiệu Sanh Hiên, với cấu kiện cột nhỏ, xuyên trính lớn và cong tự nhiên, tôi tạm có câu trả lời cùng chung với ý nhận xét của các chuyên gia Nhật Bản: “Như vậy, qua điều tra sơ bộ được tiến hành đến thời điểm hiện tại thì khu phố Nhật nằm phía tây của cầu Nhật Bản, xung quanh khu vực đình Cẩm Phô (trên đường Nguyễn Thị Minh Khai) và đình Thổ Lễ”. Và chuyên gia Nhật Bản cũng đưa thêm nhận định cần xác minh là phần phía bắc của đường Trần Phú, nhất là khu vực lân cận đường Phan Châu Trinh có khả năng là khu phố cư trú của Nhật vào thế kỷ XVII.

NGUYỄN THƯỢNG HỶ