Mạch ngầm thơ đất Quảng

NGUYỄN HÀN CHUNG |

Tôi mạn phép gọi là  mạch ngầm thơ đất Quảng vì hầu hết tác giả, tác phẩm tôi muốn bạn đọc tiếp cận trong bài viết này hầu như rất ít người là tác giả chuyên nghiệp, thành danh có nhiều tác phẩm xuất hiện trên báo chí cả nước. Phần lớn là những người say thơ, họ viết vì không thể  không viết để giải tỏa tâm sự dồn nén, khắc khoải của người lưu lạc. Họ có thể là những người sau bao năm lăn lộn trường chinh chiến ở khắp các bưng biền, rồi hòa bình trở thành người phố thị. Có thể họ là anh, chị biệt động thành Sài Gòn một thời vào tù ra tội, có khi chỉ là anh thơ dệt, cô thợ móc go nào đó vì nghèo đói ngay từ ngày thơ ấu  phải lưu lạc Gia Định – Sài Gòn, Đồng Nai - Bến Nghé để mưu sinh. Thậm chí họ có thể là viên chức, quân đội  của chế độ cũ  hay  họ là người lớn lên và trưởng thành sau khi nước nhà thống nhất. Họ làm đủ mọi ngành nghề  và đặc biệt  phần lớn tập trung ở khu Bảy Hiền và các vùng phụ cận. Đi trên những con đường Lạc Long Quân, Phạm Phú  Thứ, Võ Thành Trang, Trần Mai Ninh, Đồng Đen, Bàu Cát... hay vào chợ Bà Hoa, Chợ Nhỏ  nghe râm ran giọng Quảng  ta cứ ngỡ như đang ở giữa chợ Chùa, chợ Được. Những con người rất đỗi nhớ quê ấy ràn rụa mối tình hoài xứ “Hương âm vô cải mấn mao tồi” (Tóc râu đều bạc mà giọng quê không đổi - Hạ Tri Chương). Thơ họ không thiên về tỉa tót kỹ thuật chẳng theo một trường phái nào, nhiều câu ngô nghê đến cảm động; dường như họ mới là đích thị thi nhân, lòng tới chỗ nào câu chữ vấn vương tới đó nhưng thi thoảng ta thấy lóe lên nhiều câu ngỡ như đã chạm đến nguồn mạch vô cùng.

Giao lưu chiếu thơ nhân ngày thơ Việt Nam lần thứ XIII - 2015 tại Văn thánh Khổng miếu (Tam Kỳ).Ảnh: PHƯƠNG THẢO
Giao lưu chiếu thơ nhân ngày thơ Việt Nam lần thứ XIII - 2015 tại Văn thánh Khổng miếu (Tam Kỳ).Ảnh: PHƯƠNG THẢO

 Tôi chỉ là một người cùng quê tình cờ hành hương vào cõi thơ chân chất ấy xin được chăm sóc đôi câu gọi là tìm chút bóng quê trong tấp nập ồn ã thị thành.

Huỳnh Quang Gia làm thơ từ lâu tuy anh chưa in thành tập song nghề đã khá tinh, nhiều câu thoạt đọc nếu như không diện kiến thi sĩ ắt sẽ không tin người quá tuổi “cổ lai hy” ấy lại có những câu thơ tươi trẻ lạ kỳ: “Hàng cây lặng im không nói/Dang tay chống đỡ trời đêm…/ Gió khuya chạnh niềm man mác/Thời gian như tiếng thở dài’’.

Nam Giang có giọng thơ hào sảng mang mang nỗi niềm hoài cổ thanh gươm yên ngựa xa vời: “Ta rót cạn giọt tình cùng tri kỷ/ Vành trăng khuya vừa rụng xuống đầu non …Bên dốc núi mộ ai sầu khói lạnh/ Mà chiều nay hoa xuân nở đúng kỳ”.

Hồn hậu, chân chất chị Bích Bửu bộc tỏ tâm trạng người con gái Quảng Nam vào thập niên sáu mươi với  một chút day dứt đi, về: “Đám cưới rước dâu một sáng hè/ Ngăn làm sao được nhạc sầu ve/ Lòng con tan chảy trong câu hỏi/ Con bước ra - sao gọi là về?”.

Nguyễn Thị Bích Ngọc trong bài thơ Cát Bỏng dụng được những câu thơ có lực gợi khi ngoái lại những ngày thơ ấu “rơi theo dấu chân bò in trên cát”: “Gieo nỗi nhớ gặt vui buồn ký ức/ Hạt mẹ trồng chắc lép cuộc mưu sinh… Nón lá ngửa mẹ về lum lúp lúa/ Hạt gạo tròn lăn khuyết tuổi thơ con’’.

Võ Văn Sâm rời quê biển đã biết bao năm, lòng anh lúc nào cũng đau đáu vọng về cố xứ đôi lúc anh rơi vào nghịch lý: “Đã bao lần thầm hẹn với xa xăm/ Biển thao thiết gọi ta về, em có biết/Anh như thể sóng bạc đầu cứ trắng/ Em không về - tan vỡ thế mà xanh”.

 Hình ảnh trung niên thi sĩ Bùi Giáng không thể thiếu trong thơ người xa xứ Sơn Thu với Kính thầy Bùi Giáng: “Hoa sim thế núi hao gầy/ Con dê chạy loạn luống cày tình quê/ Hình hài rối bóng cơn mê/Câu thơ hạnh phúc mà ê ẩm đời’’.

Khu Bảy Hiền nhiều năm, ngày cũng như đêm có một đặc trưng là đầy những tiếng nhạc cửi, “tiếng xập xình vang ra từ xóm dệt”, Nguyễn Hữu Thụy miêu tả vừa cụ thể vừa đầy chất huyễn tượng: “Tiếng thoi đưa cám cảnh đời thường/ Sớm tối mài mòn thân gỗ mới/Theo sợi tơ đan, nhạc từ khung cửi/Lại réo tình “bắt nhịp kế” ru con”.

Đêm cuối năm cái thời khắc mà con người xa quê nói như Võ Văn Pho: “Một nửa xuân quay về với mẹ/ Một nửa xuân mắc cạn thị thành”.

“Mắc cạn thị thành” cụm từ  được tác giả dùng khá đắt nhưng sao nghe nó xót xa, chính sự tự nguyện mắc cạn ấy  mà hai nửa chòng chành… hai nửa xuân riêng không làm sao dỗ giấc cùng nhau được nữa.
Nguyễn Thị Huyền Trân trong bài thơ Lời người vợ  có cách nói mộc mạc theo lối Quảng: “Trưa về gặp anh uống rượu”. Việc gì xảy ra nhỉ?  Không phải là một sự chì chiết hay phiền trách  không dứt  mà là một độc thoại nội tâm câm nín cam chịu rất cảm thông nỗi buồn thất chí của chồng: “Nhìn anh lòng em tự hỏi/ Buồn vui biết đến bao giờ”.

Nhớ những ngày cam khổ một thuở Sài Gòn Lục tỉnh xưa Nhật Minh bồi hồi ngẫm ngợi: “Đắng cay một mảng Hổ trường/ Lắng trong đáy cốc còn hương quê nhà”. Và tác giả khẳng định đó chính là “Cội nguồn vực dậy đời ta/Ngựa tung vó vượt quan hà mà đi…”.

Võ Minh Trang tự  câu chuyên  Ngụ ngôn một loài chim đã nhuốm vào thơ màu không sắc cửa thiền: “Chuyện kể rằng anh cu cườm không chết/ Chỉ chơi trò Trang tử hôm qua/ Và khái niệm về thường, còn sinh, biệt…’’.

Màu triết luận còn được Nguyễn Văn khắc họa trong bài Nước mắt và niềm vui “Bám đôi chân dưới đất/ Ngửa mặt để thành người… Nước mắt cứ diễn trò/ Niềm vui thành mật đắng” để rồi  thảng thốt bất lực trước cõi nhiệm huyền cuộc sống “Mười ngón tay sờ sẫm/ Cửa thiên đường nơi đâu?”.

Mạch ngầm thơ Quảng như một dòng chảy không nguôi vào vô tận xứ. Tuy những dòng thơ ấy đâu đó còn những vụng về, thô thiển tất yếu của những người không chọn văn chương làm con đường đeo đuổi suốt đời nhưng trong tự tình thơ, mạch ngầm ấy  là chất keo kết  dính  vào các thế hệ đời sau với quê hương nguồn cội  đã sản sinh ra dòng tộc của mình. Chất nguồn đó chính là bản sắc của người Quảng Nam, trong văn chương bác học lẫn văn chương bình dân được lưu truyền qua  nhiều thế hệ. Tính khí người Quảng thế nào thì thơ ca thế ấy. Mạch ngầm thơ Quảng không phải chỉ có từng ấy thôi đâu, nó như những giọt tinh sương lắng đọng không phải chỉ trong một bài viết ngắn có tính chất điểm xuyết này đã lộ ra hết mà  tầng ngầm chìm khuất sẽ là phần thưởng vô giá cho những ai mải miết kiếm tìm.

NGUYỄN HÀN CHUNG