Mẹ và con và... gốm

TRẦN ĐĂNG |

Làng Bàu Trúc tỉnh Ninh Thuận là một trong những làng gốm “cổ nhất Đông Nam Á” - như nhận định của các nhà nghiên cứu gốm Chăm. Ngôi làng này đã sản sinh nhiều nghệ nhân nổi tiếng nhưng trường hợp hai mẹ con cùng vang danh như bà Đàng Thị Phan (73 tuổi) và con trai là Đàng Năng Tự (38 tuổi) thì khá hiếm hoi.

Bà Đàng Thị Phan đang hoàn thành một sản phẩm gốm. Ảnh: TRẦN ĐĂNG
Bà Đàng Thị Phan đang hoàn thành một sản phẩm gốm. Ảnh: TRẦN ĐĂNG

Người Chăm theo chế độ mẫu hệ nên đối với các nghề truyền thống, người mẹ chỉ trao truyền cho con gái nhưng với gia đình bà Đàng Thị Phan là trường hợp “phá lệ”. Có lẽ cuộc sống hiện đại đã phá vỡ những quy ước truyền thống của người Chăm nên mới có chuyện con trai nối nghiệp mẹ là vậy. Bản thân bà Đàng Thị Phan cũng đã bước ra khỏi cổng làng mình để hòa nhập với thế giới gốm của nhiều dân tộc khác nhau trong nước cũng như trên thế giới từ hơn 10 năm nay.

“Đất thánh đất thần”

Nguyên liệu để dân Bàu Trúc làm gốm Chăm là mỏ đất sét thuộc cánh đồng ven sông Quao, cách làng chừng 4 cây số. Dân Chăm ví đất sông Quao như “đất thánh đất thần”, vì bao nhiêu thế hệ làm gốm Chăm ở làng Bàu Trúc đến đây khai thác nhưng toàn bộ diện tích vùng đất này không hề lõm xuống mà cứ hễ lấy xong thì đất đâu dưới “âm ty” lại trồi lên như cũ. Các nhà địa chất cũng đã về đây nghiên cứu hiện tượng lạ này nhưng cho đến nay vẫn chưa ai đưa ra câu trả lời nào cho thật thỏa đáng. Mỏ đất như nồi cơm Thạch Sanh ấy vừa là nguyên liệu duy nhất của làng gốm Bàu Trúc đồng thời cũng là nguồn cảm hứng vô tận để những nghệ nhân lão luyện như bà Đàng Thị Phan thể hiện tinh hoa về nghệ thuật làm gốm của mình. Với những nghệ nhân như bà Phan, chỉ có đất sông Quao mới giúp họ thăng hoa nhất khi chế tác sản phẩm đất nung và khắc tạc lên đó những họa tiết, những đường nét rồng bay phượng múa mà thôi.

Năm 2006, bà Phan là nghệ nhân duy nhất của Việt Nam đặt chân lên đất Malaysia để thi thố tài năng với nghệ nhân các nước có nền sản xuất gốm lâu đời như Ấn Độ, Nhật Bản và bà đã đoạt giải nhất. Bà Phan kể rằng, lúc đến lượt bà thi triển cách làm gốm, cả ban tổ chức lẫn khán giả rất ngỡ ngàng khi thấy bà lấy “đồ nghề” của mình là đất của cánh đồng ven sông Quao quê nhà ra nhồi bằng tay cùng chiếc lược sứt răng để trang trí họa tiết, trong khi đồng nghiệp đến từ các nước thì họ mang cả máy móc sang để…  trộn đất. Nói đất sông Quao là “đất thánh đất thần” là bao hàm cả việc này nữa chứ không chỉ là “đất Thạch Sanh” như đã kể trên đây.

Nặn bằng tay, xoay bằng mông

Đó là câu đúc kết dễ hiểu nhất về nghề làm gốm ở Bàu Trúc này. Nếu như làng gốm các nơi người thợ phải dùng đến máy để trộn đất cho nhuyễn đều thì cách làm gốm ở Bàu Trúc lại hoàn toàn bằng tay. Bà Phan vừa thị phạm cho khách, vừa thuyết minh về chiếc ảng bà đang làm: “Đất lấy từ sông Quao về, đổ nước vào theo tỷ lệ nhất định, sau đó là dùng tay trộn và nặn sao cho đến khi cảm thấy được thì bắt đầu… xoay mông như thế này này”. Vừa nói bà vừa đi lùi, xoay quanh chiếc ảng, tay vẫn không quên đặt lên thành của sản phẩm và “lái” làm sao đó để nó tròn đều. Chỉ có người trực tiếp làm ra sản phẩm ấy như bà Phan mới cảm nhận bằng bàn tay của mình khi nào thì đất ấy “chín”, tức có thể tiến hành “đúc” các sản phẩm mà mình muốn. Nó rất giống như mấy ông thợ nấu đường thủ công ở Quảng Nam, Quảng Ngãi. Chỉ có mấy ông thợ ấy mới biết khi nào thì đường đã “tới” để đổ ra bát, sớm quá cũng không được mà muộn quá cũng hỏng đường.

Người làng Bàu Trúc làm gốm.
Người làng Bàu Trúc làm gốm.

Nặn đất sông Quao cũng vậy. Sản phẩm thành hay bại, một phần phụ thuộc vào công đoạn “nặn bằng tay” này. Sản phẩm có đẹp, có tinh xảo không thì lại phụ thuộc một phần vào việc “xoay bằng mông” nữa. Chính vì chẳng có khuôn đúc, tất cả đều làm bằng tay nên mỗi sản phẩm đều là độc bản, không một chiếc ché, chiếc bát, cái lu, chiếc vò… nào giống cái nào dù thoạt trông thì chúng có vẻ như đúc một khuôn. Để tiết kiệm nhân công, người làng gốm này cũng đã thử trộn đất bằng máy nhưng khi đem nung lên thì các sản phẩm bị lỗi quá nhiều vì đất bị “nổ” loang lổ. Đó là lý do vì sao, các nghệ nhân và thợ làm gốm ở Bàu Trúc vẫn trung thành với việc “nặn bằng tay, xoay bằng mông” từ xưa đến giờ.

“Tôi lẽo đẽo theo chân người bà của tôi từ lúc lên 5 tuổi, quan sát cách làm của bà cho mãi đến năm 18 tuổi tôi mới cho ra chiếc lu đầu tiên, năm 20 tuổi thì mới cho ra lò hàng loạt sản phẩm. Phải quan sát một cách chăm chỉ và tỉ mẩn suốt 13 năm như thế mới nhập môn được với nghề” - bà Phan nhớ lại quãng thời gian “học việc” của mình. Cũng theo bà Phan, làm gốm phải thật sự đam mê thì mới được. “Nó vừa là nghề truyền thống kiếm cơm nhưng lại đòi hỏi nghệ thuật cao chứ không chỉ là làm ra các sản phẩm thương mại thuần túy. Mỗi sản phẩm gốm hàm chứa một tín ngưỡng trong đó nữa. Ví dụ như chỉ một cái lu đựng nước thôi nhưng nó lại can dự vào rất nhiều nghi lễ của người Chăm, từ làm nhà, cưới xin đến khi chết. Vậy nên trước khi làm một sản phẩm gốm, người thợ phải đặt lòng bàn tay vào nguyên liệu đất và gửi vào đó một lời nhắn nhủ. Nó rất thiêng liêng nên nghề làm gốm chỉ dung nạp những ai yêu nó mà thôi” - bà Phan tiết lộ một phần tâm tư về câu chuyện gốm. Đến đây thì tôi mới hiểu vì sao, trong số 11 người con của bà thì chỉ có hai người theo nghề của mẹ, trong đó có con trai Đàng Năng Tự.

Giải mã tháp Chăm

Xưa kia, nghề làm gốm chỉ có phụ nữ. Đàn ông trai tráng chỉ lo mỗi việc ra cánh đồng sông Quao lấy đất đem về và mang sản phẩm đi bán. “Đi rạc cẳng nhưng kiếm chả được là bao, tôi quyết định chuyển hướng sang trực tiếp làm nhưng không làm các sản phẩm như mẹ tôi mà là làm… tháp” - Đàng Năng Tự nói lý do anh theo nghề của mẹ.

Đàng Năng Tự bên một chiếc tháp mi ni. Ảnh: TRẦN ĐĂNG
Đàng Năng Tự bên một chiếc tháp mi ni. Ảnh: TRẦN ĐĂNG

Cho mãi đến tận hôm nay, các nhà nghiên cứu văn hóa Chăm từ khắp nơi trên thế giới cũng không tài nào hiểu được người Chăm đã kết nối các viên gạch lại bằng chất liệu gì để xây tháp? Người thì bảo họ dùng mủ của cây bời lời hoặc tinh dầu của cây ô dước; người thì cho rằng họ đặt những viên gạch ướt chồng lên nhau rồi chất củi để nung. Tất cả giả thiết ấy đều bị thực tế bác bỏ khi các nhà nghiên cứu mang vật liệu đi phân tích bằng máy móc hiện đại. Vì vậy, giải mã những bí ẩn ấy chỉ có thể là hậu duệ của họ. Đàng Năng Tự như là truyền nhân của những người thợ Chăm xây tháp cách nay ngót ngàn năm, dù lời giải cho những bí ẩn vẫn còn đang phía trước.

“Tất cả nằm trong chiếc can này” - Tự đột nhiên biến mất, rồi bất ngờ trở về mang một chiếc can chừng 10 lít, bên trong đựng một loại nước nhờn nhờn màu nâu sẫm. Anh bảo rằng đó chính là nguyên liệu mà tổ tiên anh đã dùng để kết nối các viên gạch lại mà không thấy dấu vết gì. “Hơn 15 năm nay, tôi mới phát hiện ra nó đấy. Giờ chỉ mong Nhà nước cho kinh phí để tôi thử nghiệm thôi” - Tự nói đầy vẻ bí ẩn.

Trong lúc chờ đợi những tín hiệu “cho phép” từ cơ quan chuyên môn, Tự đã cụ thể hóa những tháp Chăm lừng lững bên trời suốt 9 thế kỷ qua ở quê anh bằng các tháp mi ni trông rất ấn tượng. “Mô hình thu nhỏ này vừa là để thử nghiệm định dạng nhưng cũng vừa để nuôi thân. Tôi bán mỗi tháp 4 - 5 triệu đồng sau hơn nửa tháng đánh vật với đất sông Quao”. Trong vườn nhà anh không chỉ là các sản phẩm bằng gốm do mẹ anh trực tiếp làm mà còn ngổn ngang những tháp là tháp.

Những chiếc tháp mi ni ấy liệu rồi có “vươn vai” thành những ngọn tháp sừng sững bên trời chạy dọc miền Trung suốt hơn10 thế kỷ qua không, đó còn là một dấu hỏi. Tôi thì luôn hy vọng vào “kỳ nhân” có tên là Đàng Năng Tự này.

TRẦN ĐĂNG