Người đặt tên cho núi

NGUYỄN NHÃ TIÊN |

Như một người du nhàn, tôi thư thả bước trên lối mòn dưới rặng thông xanh giữa rừng  thông Núi Đôi rợp bóng râm mát. Thực ra gọi là Núi Đôi nhưng độ cao chỉ tầm một quả đồi trung bình, giống như những gò đồi trên các vùng trung du khác. Con đường dẫn từ phố huyện Sóc Sơn về xã Phù Linh, qua khỏi đoạn đường sắt cắt ngang, trông về bên trái là gặp Núi Đôi nhô lên xanh um một góc trời quê.

Đi giữa rừng âm thanh vi vu gió lùa qua đỉnh núi, tôi có cảm giác như gió Núi Đôi là thứ gió biết tình tự, kể cho người ta nghe bằng một thứ âm thanh khôn nguôi đánh thức từng quá vãng. Hướng con mắt nhìn xuống chân núi, hòa trong cái màu nõn xanh của lúa vụ đông xuân mơn mởn đương thì con gái, tôi nhủ thầm: chắc là Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa là ở nơi này đây. Thế còn con đường tình yêu, con đường quê gần gũi, mộc mạc đơn sơ, tưởng như cụ thể đến từng cành sương cọng cỏ: Lối ta đi giữa hai sườn núi/ Đôi ngọn nên làng gọi Núi Đôi, cái lối tỏa bóng tình yêu huyền thoại ấy, sao trông vào khoảng cách hai ngọn núi, tôi thử lần tìm mãi mà chẳng thấy đâu.

Núi Đôi Quản Bạ (Hà Giang). Ảnh: ĐÌNH QUÂN
Núi Đôi Quản Bạ (Hà Giang). Ảnh: ĐÌNH QUÂN

Trong miên man âm thanh bất tận của ngàn thông, tôi chợt hiểu ra, ngộ ra, rằng con đường tình yêu làm nên huyền thoại Núi Đôi của ngày xưa ấy, bây giờ đã trở thành những lối của vô tận. Lối mà ngàn thông trên hai ngọn núi này tình tự mãi trên đường khách hành hương đi qua tưởng chẳng bao giờ dứt được chuyện tình yêu Núi Đôi một thuở nào. Thế nên, mặc tình cho bàn chân tùy hứng bước đi theo từng cảm xúc mà tưởng vọng ra Núi chồng núi vợ đứng song đôi, mặc cho nắng sớm mưa chiều. Có những hiện hữu cứ như là huyền nhiệm đang bày biện trước thiên nhiên kiểu như thi thố với thời gian. Vì nếu không như thế thì làm gì trước tôi, và rồi sẽ còn tiếp sau tôi nữa, người ta tìm về Núi Đôi để được thực chứng, để được chạm vào cỏ dưới chân, vào thông reo gió hát trên trời, mà vọng tưởng nghe ra một chuyện tình bi tráng đã được xây đắp thành một tượng đài thơ Núi Đôi suốt từ hơn nửa thế kỷ nay.

Từ Hà Nội chạy xe về phố huyện Sóc Sơn chỉ mất độ nửa giờ, qua khỏi chợ huyện thêm một quãng hơn cây số là đến xã Phù Linh. Phố xá vùng ngoại ô đang thời ồn ã tấp nập đua bơi đất mua đất bán, nhà cửa lâu đài các kiểu mọc lên chen chúc, chừng như xua tan hẳn cái bầu không khí thanh vắng trong lành nhuốm màu thi vị của một vùng quê trung du thơm ngát hương đồng gió nội. Không rõ cô chủ quán  nước ven đường bên chợ Phù Linh là người địa phương hay là người từ nơi khác đến, mà khi nghe tôi hỏi đường về cái làng Xuân Dục ở Núi Đôi, cô chủ quán đã hỏi gặng lại tôi giọng ráo hoảnh: “Ông tìm hỏi mua đất xây nhà à?”.

Tôi men theo lối mòn bước lên sườn đồi, có ngày xưa nào của tôi ở quanh quất đâu đây mà lòng bổi hổi như thể mình gặp lại quê quán của chính mình. Hóa ra “Núi Đôi” của những: Bảy năm về trước em mười bảy/ Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng/ Xuân Dục Đoài Đông hai cánh lúa/ Bữa thì em tới bữa anh sang… Vâng, có ai ngờ thơ ấy đã hòa vào vô thức, lắng sâu vào đấy tự bao giờ như một quê xứ siêu hình, để rồi có lúc tưởng vọng mà mơ hồ thương nhớ. Ví như bây giờ nhìn khói bay mỏng mảnh như tơ trời giăng trên Núi Đôi, không dưng mà tôi hòa điệu cùng cây lá ngâm tràn Sương trắng người đi lại nhớ người!

Loanh quanh cùng với thông reo gió hú bạn đường, chả cần phải nhọc nhằn tìm kiếm nhân chứng lịch sử, tôi cũng bắt gặp cái lô cốt to đùng dày mấy lớp meo mốc của giặc Pháp ngày xưa đóng đồn còn nguyên vẹn trên đỉnh núi. Thì ra, cái “đồn Thứa” trong Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa rõ mười mươi như thế này đây. Cho dù không rành địa chí Sóc Sơn này, tôi vẫn ngờ rằng, từ cái đồn Thứa trên núi, có thể ngọn núi này ngày xưa còn có tên là núi Thứa. Vào thời đó, những bót đồn của giặc Pháp đóng ở các cao điểm, hoặc là yếu điểm nào đó ở khắp mọi nơi, thường gắn liền tên với địa danh nơi đó. Ví như ở quê tôi, đồn Bồ Bồ của Pháp gắn liền tên với núi Bồ Bồ, tương tự như thế, đồn núi Lở gắn liền với tên núi Lở. Cứ theo logic đó mà suy, thì chắc rằng tên  núi Thứa có trước tên gọi Núi Đôi. Hay nói một cách khác,  từ hình ảnh hiện thực của đôi ngọn núi, thi sĩ đã đặt tên cho bài thơ là: Núi Đôi, để rồi từ đó tên gọi bài thơ huyền thoại ấy trở thành tên gọi chung của núi. Nếu là vậy thì thi sĩ ơi, người không chỉ đắp cho núi cao vời lung linh trong tâm tưởng mọi người bằng một tượng đài thi ca, mà thi sĩ còn chính là người đặt tên khai sinh cho núi!

Vâng, chúng ta đều biết thi sĩ ấy là Vũ Cao, ông thuộc thế hệ những nhà thơ mặc áo lính từ thời kháng chiến chống Pháp. Có thể nói, bài thơ Núi Đôi là ngọn thi sơn làm nên tên tuổi Vũ Cao. Đây là một câu chuyện tình yêu có thật, thấm đẫm chất bi tráng của một thời chiến tranh mà các nhân vật trong bài thơ đều là những người con của xứ sở Núi Đôi này. Hẳn là suốt cuộc trường chinh kháng chiến năm xưa, đã có biết bao chàng trai cô gái mười bảy đôi mươi đã hy sinh cao đẹp như thế. Nhưng sự bí nhiệm của thơ là ở chỗ tương quan giữa cái tôi thi sĩ và thế giới mà sinh thành khoảnh khắc huyền thoại. Diễn giải một cách khác, định mệnh đã trao câu chuyện tình yêu Núi Đôi cho thi sĩ Vũ Cao chứ không phải một ai khác. Và bằng thi tài cùng với phẩm hạnh của mình, từ bấy, Vũ Cao đã xây nên một Núi Đôi thơ bên cạnh một Núi Đôi núi sừng sững đôi chiếc bóng đổ dài trên cánh đồng Xuân Dục - Đoài Đông.

Tìm về Núi Đôi - quê hương tình yêu trong thơ của Vũ Cao, cũng giống như từng tìm về  Mai Châu, Mường Lát trong “Tây Tiến” của thi sĩ Quang Dũng, bước lang thang tùy hứng tôi cứ tưởng ra người xưa còn để lại dấu trên đường. Những cuộc lãng du ấy có khi tự mình kiểm nghiệm vì sao “khi cỏ dại biết yêu cỏ dại thành hoa”. Hình như trong trường ca “Bông cỏ dại” (Banaphul), Tagore có nói đến một ý thế này, rằng thi sĩ là tình nhân của nhân loại. Chao ơi, họ có là tình nhân hay không thì bao người trước và sau tôi, khi đặt chân lên Núi Đôi này, cây lá xanh tươi sức sống ấy sẽ trả lời cho ta cái điều ta muốn hỏi. Với tôi, có thể là một phút xao lòng, hay là tiếng gió vi vút thổi qua rừng thông kia đã truyền cho tôi cái cảm hứng để hòa vào tiếng gió mà nghe kể chuyện tình Núi Đôi một thuở! Vâng, cũng từ bấy chẳng còn nghe mấy ai nhắc đến cái tên núi Thứa xa xưa, mà là Núi Đôi - tên bài thơ đã vĩnh viễn thành tên của núi.

NGUYỄN NHÃ TIÊN