Nhà thơ Ngọc Anh và cây Kơnia

THANH QUẾ |

Nhà thơ Ngọc Anh sinh năm 1934, mất năm 1965, như vậy năm nay là năm kỷ niệm 80 năm sinh và 49 năm mất của ông. Sinh thời, nhà thơ Ngọc Anh được biết đến như một người dịch dân ca Tây Nguyên với cái tên nhỏ trong ngoặc kép: “Ngọc Anh phỏng dịch”. Nhiều người đã say mê bài Bóng cây Kơnia. Mãi sau này, từ những người bạn thân của Ngọc Anh, người ta mới biết những bài thơ đó là do Ngọc Anh sáng tác...

Ngọc Anh tên thật là Nguyễn Ngọc Anh quê xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc - Quảng Nam. Thời kỳ chống Pháp, ông vào thiếu sinh quân, học tại trường Trung học Bình dân quân sự khu 5. Học xong, ông cùng một số bạn bè đi làm phóng viên mặt trận ở Tây Nguyên. Sau đợt ấy, ông về làm báo Vệ quốc quân thuộc Phòng Chính trị, Bộ tư lệnh Quân khu 5. Cùng làm phóng viên mặt trận ở Tây Nguyên với Ngọc Anh có một số người mà sau này cả nước đều biết tiếng: nhà văn Nguyên Ngọc, nhạc sĩ Nhật Lai, nhạc sĩ Trương Đình Quang. Họ sống cùng với đồng bào các dân tộc Ê đê, Gia rai, Xê đăng, Giẻ Triêng trong các buôn làng, làm đủ thứ việc: đánh giặc, làm rẫy, vận động quần chúng, tổ chức vũ trang tuyên truyền... Người đầu tiên có những sáng tác được công bố là Nhật Lai. Nhật Lai có tên thật trùng với nhà văn nổi tiếng Nguyễn Tuân. Ông là người Tuy An, Phú Yên, anh ruột của nhà thơ Nguyễn Mỹ - tác giả bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ. Nguyễn Tuân người thấp, lùn nên được các bạn gọi đùa là Nhật Lai, và ông lấy tên Nhật Lai làm bút danh của mình.

Nguyên Ngọc lúc này đã có những bài bút ký và đang tích lũy cho quyển tiểu thuyết nổi tiếng sau này: Đất nước đứng lên. Trương Đình Quang đã có bản nhạc Tiến lên Lắc. Chỉ có Ngọc Anh vẫn im lặng. Thật ra, Ngọc Anh đang lặng lẽ tìm hiểu về ông Mết, người Rắc-lay, chỉ huy du kích nổi tiếng ở làng Xóp Dùi (Kon Tum). Dân làng ở đây đánh du kích rất giỏi. Quân Pháp nhiều lần ồ ạt càn quét nhưng vẫn không vào làng nổi. Làng này cũng dạng như làng Stơ (Gia Lai) của anh hùng Núp. Bản thân ông Mết cũng có thành tích không kém gì anh Núp… Nhưng Ngọc Anh chẳng nói ý định viết về ông Mết của mình cho ai biết. Ông muốn lúc nào có bản thảo thật tốt mới đưa ra nhờ anh em đọc giúp. Trước mắt bạn bè, con người vốn đẹp trai có nước da trắng hồng ăn nói nhỏ nhẹ như con gái, lúc nào cũng khiêm nhường, cũng khuất mình sau người khác. Bù lại, ông lại được nhiều người yêu mến. Nhà văn Nguyên Ngọc kể lại rằng: Hồi ở Phú Yên, có hai cô gái học ở trường Trung học Kháng chiến Lương Văn Chánh yêu ông cùng một lúc và hình như Ngọc Anh cũng yêu cả hai cô.

Do có thân hình đẹp như con gái nên Ngọc Anh thường “bị bắt” đóng con gái trong các vở kịch. Nhạc sĩ Trần Hồng kể lại rằng: Dạo ấy tôi ở Đoàn Văn công tiền phương HL30 Tây Nguyên do ông Nguyễn Mạnh Hào làm trưởng đoàn. Một hôm, chúng tôi đang lo dựng vở kịch Đón anh trở về của Trọng Anh. Vở kịch dựng hình ảnh một người vợ ở nhà chờ chồng đi dân công trở về. Tôi được chọn đóng vai chồng. Trong đoàn không có phụ nữ, ai đóng vai vợ đây? Đang lo sốt vó thì Ngọc Anh đến thăm chúng tôi. Nhìn cái dáng “con gái” của anh, tôi vui vẻ nói: “Mày đóng hộ tao vai vợ nghe”. Ngọc Anh cười: “Mình đóng không nổi đâu”. Nói vậy nhưng Ngọc Anh cũng gật đầu. Chúng tôi vào làng đồng bào mượn chang tóc, đến các cô dân công mượn kẹp cho Ngọc Anh. Khi Ngọc Anh bước ra sân khấu, tôi đâm sững sờ vì cậu ta giống con gái quá. Sau buổi diễn, dân công, bộ đội và đồng bào xúm tìm “cô gái” để xem mặt sao mà đóng hay thế. Tôi vào sau sân khấu dẫn Ngọc Anh ra. Mọi người chưa tin. Tôi giải thích, tức thì mọi người cười ồ lên vỗ tay tán thưởng.

Cuối năm 1954, Ngọc Anh tập kết ra Bắc. Ông được phân công về công tác ở Ban Dân tộc Trung ương, sau đó về Viện Văn học làm công tác theo dõi văn học miền núi. Và trong thời gian này, Ngọc Anh lặng lẽ viết những bài thơ đã trở thành dân ca được người Tây Nguyên thừa nhận. Ông phải “giấu tên” để đề cao thơ các dân tộc Tây Nguyên đang chống Mỹ, mặt khác cũng phù hợp với đức tính lặng lẽ khiêm tốn của ông.

Lúc bấy giờ, ở miền Nam, bọn Mỹ - Diệm đến Tây Nguyên “bắt con trai đi lính, bắt phụ nữ làm đường, bắt mỗi đầu người phải nộp thuế thân”. Chúng còn bắt nhân dân rời buôn làng đến sống trong những khu dồn để dễ kiểm soát. Trong khu dồn bà con quặn thắt nhớ quê: “Đất ông bà/ Ta nhớ ta thương/ Nhớ rẫy cũ làng xưa/ Nhớ mùa gặt mới/ Nhớ tiếng trâu ngoài làng/ Tiếng voi đằng xa/ Và tiếng chim ăn hoa buổi sáng”. Nhưng người Tây Nguyên vẫn đoàn kết chống lại chúng, vẫn tin tưởng ở Đảng, ở cụ Hồ, ở miền Bắc, vững tin ngày non sông thống nhất. Bài Bóng cây Kơnia là bài thơ xuất sắc nhất của Ngọc Anh, bài thơ mang đậm những ý tưởng trên cũng là bài thơ mang đậm hồn Tây Nguyên: “Em hỏi cây Kơnia/ - Gió mày thổi về đâu?/ - Về phương mặt trời mọc/ Mẹ hỏi cây Kơnia:/ - Rễ mày uống nước đâu?/ - Uống nước nguồn miền Bắc”. Cây Kơnia, cái cây còn có tên gọi khác là cây cầy, cây cốc, cây đậu trướng vô danh kia đã được nhà thơ thổi tâm hồn mình vào thành một bóng cây sừng sững của núi rừng Tây Nguyên yêu dấu ngàn đời, được nhân loại biết đến. Phải chăng Ngọc Anh đã sinh ra cây Kơnia kia? Bài thơ Bóng cây Kơnia đã được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc, được đưa vào trong các tuyển tập thơ lớn của đất nước.

Năm 1964, Ngọc Anh trở về miền Nam!

Trước đó, ông đã xây dựng gia đình với một cô gái đồng hương nhưng hai người không được ở gần nhau. Ông công tác ở Hà Nội, còn vợ công tác ở Hải Phòng. Lâu lâu họ mới gặp nhau. Bây giờ ông lại xa biền biệt... để lại cho người vợ gầy yếu hai đứa con nhỏ. Sau này, khi Ngọc Anh đã mất rồi, người vợ vừa khóc vừa nói với bạn bè: “Tôi với anh ấy sống với nhau vẻn vẹn có 40 ngày”. Ông Trần Thanh Dân sau này là Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Gia Lai - Kon Tum kể rằng, hôm tiễn Ngọc Anh và chúng tôi ra đi, chị vợ rơm rớm nước mắt, Ngọc Anh đùa tếu để làm nhẹ cảnh chia ly. Nhưng những đêm mắc võng trên đường đi, Ngọc Anh tâm sự: “Tôi nghĩ thương Xoa xa tôi, vất vả nuôi hai đứa nhỏ”.

Ngọc Anh vào chiến trường, nhưng cũng không công tác ở các cơ quan khu như các bạn. Ông về tỉnh Kon Tum công tác và tiếp tục nghiên cứu về Tây Nguyên, về đồng bào các dân tộc cũng như tìm hiểu thêm về làng Xóp Dùi để viết cho xong tập truyện về ông Mết mà ông đã khởi thảo. Ngọc Anh lo tập luyện các tiết mục cho đoàn văn công tỉnh và cặm cụi ghi chép, suy nghĩ về dân ca của các dân tộc Tây Nguyên mà ông yêu mến. Bao giờ ông cũng muốn làm được một cái gì đó cho ra tấm ra món và thực chất là Tây Nguyên. Nhiều bạn bè quen biết ông ở khu - lúc này đang chuẩn bị ra tờ tạp chí Văn nghệ quân giải phóng khu 5, muốn xin ông về căn cứ ở khu công tác, có điều kiện bồi dưỡng sức khỏe và phát huy được năng lực của ông hơn. Tuy nhiên, ông vẫn ở lại Tây Nguyên - nơi có những cây Kơnia trùm bóng mát xuống buôn làng và Ngọc Anh đã lặng lẽ ngã xuống ngày 15.10.1965 bên những bóng cây Kơnia mà ông yêu mến.

Nhà văn Nguyên Ngọc kể lại rằng, vào một ngày nọ, sau chiến tranh, có một người đàn bà đến gõ cửa phòng tôi, tự giới thiệu: “Tôi là Xoa, vợ anh Ngọc Anh. Anh có thể giúp chúng tôi đưa anh ấy về quê không?”. “Chúng tôi đã đi tìm mộ anh mà chưa được chị ạ”. Người đàn bà nói giọng buồn buồn: “Nếu không tìm ra mộ anh ấy và đưa hài cốt về quê thì tôi không thể sống yên anh à”.

Lần ấy, bà cùng người con trai tên Bắc đi vào Pleiku nhất quyết đi tìm hài cốt của chồng. Tại đây, những người làm công tác thương binh xã hội khuyên bà ở lại Pleiku vì sức yếu, và dặn đúng giờ đó, ngày đó, thắp 3 cây nhang hướng về phía núi Ngọc Linh mà vái. Người con trai tên Bắc cùng với những đồng đội của cha đến chân núi Ngọc Linh, nơi có mộ cha mình. Cũng may, mộ ông được chôn cạnh một làng đồng bào dân tộc Ca Dong. Đồng bào còn mang máng nhớ khu vực 15m2 nay đã phẳng lì, lá mục lấp dày hàng tấc. Những người tìm mộ kể lại rằng, họ đặt bàn thờ tạm trên một tảng đá, thắp 3 cây nhang và vái. Ba cây nhang được đốt lên thì tắt một cây. Cùng lúc ấy, ở Pleiku, bà Xoa cũng đốt 3 cây nhang và quay về hướng Ngọc Linh vái chồng. Một cây bị tắt. Bà đốt lần nữa, một cây lại tắt. Bà đốt 3 nén khác thì vẫn tắt 1. Theo linh cảm, bà tin lần này sẽ tìm ra mộ Ngọc Anh. Trong lúc đó, ở chân núi Ngọc Linh, một cán bộ sau khi khấn vái xong, cầm rựa đi chặt một mắt nứa để làm cái chén rót rượu, bị vấp một hòn đá nằm dưới tán lá mục. Anh moi rộng ra thì thấy một dãy đá xếp theo hình chữ nhật. Có lẽ 23 năm trước, đồng đội của Ngọc Anh đã xếp đá quanh mộ để đánh dấu và họ đào lên: Đúng là hài cốt của Ngọc Anh. Khi hài cốt được mang về Pleiku, bà Xoa nhận ra chiếc răng sâu và một cúc áo của ông mà bà chăm chút khâu lại trước lúc ông lên đường về Nam…

Mộ Ngọc Anh bây giờ an táng ở Nghĩa trang liệt sĩ Điện Bàn. Vào một ngày đầu xuân năm nay, tôi đến đây thăm mộ những đồng đội cũ từng công tác với tôi ở Hội Văn nghệ giải phóng khu 5. Tôi đến đốt nhang cắm bên mộ Ngọc Anh - ngôi mộ khiêm nhường lẩn khuất bên những tấm bia đồng đội.

THANH QUẾ