Nhớ Tết, 1975

THANH QUẾ |

Cuối năm 1974, chúng tôi đang bám địa bàn các tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà thì được thư của nhà văn Nguyễn Chí Trung (Ủy viên Đảng Đoàn của Hội Văn nghệ giải phóng Khu 5) gọi về để chuẩn bị nhận công tác mới. Lúc này, cơ quan Hội Văn nghệ giải phóng Khu 5 đóng bên sông Trà Nô, gần cầu Bà Huỳnh, nay thuộc huyện Hiệp Đức, Quảng Nam. Chỉ trừ các anh Nguyên Ngọc, Vương Linh (Hải Lê), Lưu Trùng Dương, Thu Bồn, Liên Nam ra Bắc chữa bệnh, anh chị em sáng tác văn học đều có mặt đông đủ, thêm một nhân vật quan trọng là nhà văn Phan Tứ vừa vào lại chiến trường với nhiệm vụ đặc biệt của Đảng Đoàn văn nghệ Trung ương là lấy tư liệu để viết bộ tiểu thuyết nhiều tập “Người cùng quê”. Mọi người gấp rút viết thơ, truyện, ký để đóng góp cho số báo Văn nghệ Giải phóng Tết 1975. Tôi nhớ mình đóng góp bài thơ “Trước nhà em sông Vu Gia” và truyện ngắn “Buổi trưa ở Điện Bàn”. Nhưng số báo này mãi sau khi giải phóng Đà Nẵng mới ra, vì nhà in cũng như anh em văn nghệ lo phục vụ những việc gấp rút cho chiến dịch Xuân 1975.

Xuân 1975 chúng tôi được ăn tết sớm hơn các năm trước. Tết năm đó có lẽ là cái tết vui nhất, được ăn ngon nhất của chúng tôi. Các tết trước, dù được ưu tiên hơn ngày thường, nhưng chúng tôi cũng chỉ ăn cơm trộn sắn, có ít miếng thịt heo do cơ quan đổi muối, mì chính cho đồng bào là cùng. Thậm chí, tết 1969, cơ quan phải lo di chuyển sau trận bom B52 nên không được ăn tết. Tết năm 1971, ngay giữa ngày mồng Một phải ăn thân cây dớn (dương xỉ) với canh rau rừng. Còn tết năm 1975 chẳng những được ăn cơm trắng, có thịt heo Ban Tuyên huấn phân cho mà còn có thịt hộp, cá hộp, rượu, kẹo Hải Hà, thuốc lá Điện Biên, Tam Đảo và trà gói Phú Thọ, Thái Nguyên từ miền Bắc theo những chuyến xe chở gạo và vũ khí, ùn ùn chuyển vào các kho đầu con đường 16. Anh Nguyễn Tiến Mịch, một lái xe ở quân khu cũng là bạn làm thơ còn đem biếu cho một tút thuốc Tam Đảo, hình như cả lương khô Trung Quốc nữa… Thế là tết này thật xôm trò. Mấy năm vừa qua các bộ phận của Ban Tuyên huấn Khu 5 đóng xa nhau, tết này lại cụm về một chỗ nên bày vẽ đi thăm nhau chúc tụng xuân mới này nọ. Mấy anh bạn bên lâm nghiệp cũng qua thăm khối văn nghệ, rồi kéo chúng tôi qua bên lâm nghiệp uống rượu miền Bắc, cười nói om sòm. Cơ quan này đánh bóng chuyền giao hữu với cơ quan khác rồi rủ nhau bù khú. Nhà nhiếp ảnh Hữu Quả còn kéo anh em chúng tôi ra bờ sông Trà Nô chụp ảnh. Anh la người này, quát người kia đứng ngồi không theo ý anh, thậm chí còn chửi tôi “đồ cứt, ăn mặc như giẻ rách” nhưng chẳng ai giận anh cả. Ai cũng biết anh “la vui thôi mà”. Nhờ thế mà sau này chúng tôi còn có ảnh kỷ niệm, đôi khi còn đưa lên báo đăng nữa.

Tôi nhớ, trong bữa liên hoan tết ở cơ quan, nhà văn Nguyễn Chí Trung nói: “Theo sự “đánh hơi” của mình thì Xuân 1975 này sẽ có nhiều cái hay. Nếu ta không giải phóng được cả Khu 5 thì ít nhất cũng mở được vài tỉnh. Nghỉ vài ngày rồi anh em mình đi chiến dịch, có khi xuống tới cơ sở thì cả nước mới vào tết. Anh em mình bám theo các đơn vị bộ đội, các đoàn công tác, làm được việc gì thì làm, cố gắng viết bài gửi cho các báo địa phương và gửi về cơ quan”.

Sau khi ăn tết trước, chúng tôi gói ghém đồ đạc, chủ yếu là nhật ký, bản thảo, ảnh gia đình, bạn bè… gửi lại cho công vụ cơ quan, phòng hờ nếu mình hy sinh khỏi mất mát. Việc này cũng bình thường như mọi chuyến đi công tác khác. Tôi cùng nhà thơ Phan Nghĩa An được phân công đi Quảng Ngãi. Theo ý đồ của trên, năm 1975, nếu không giải phóng được Khu 5 thì ta giải phóng Quảng Ngãi và Gia Lai. Đợt này còn có Hà Phan Thiết, Bùi Thị Chiến, Nguyễn Trí Huân đi Bình Định; Nguyễn Khắc Phục, Nay Nô, Hoàng Hởi đi Gia Lai - Đắc Lắc; Trần Vũ Mai cơ động giữa 2 tỉnh Phú Yên - Khánh Hòa.

Trên con đường 16 (nay là đường 14B) nối liền với đường Hồ Chí Minh càng gần tết càng sôi động. Xe từ Bắc ùn ùn chất hàng vào các kho ở làng Hồi. Xe này chưa trả hàng xong, xe khác lại đến, bấm còi inh ỏi. Các lái xe cười nói, khoe nhau các ví nháy (bên ngoài có hình người phụ nữ, sẽ mở mắt nhắm mắt khi ta đưa ví theo chiều ngang hay dọc) vừa mới đổi được của cán bộ, nhân dân ở đây. Các đơn vị công binh phá núi, mở rộng thêm những con đường nhánh về Quảng Ngãi và các tỉnh phía nam Khu 5 để xe đi ngược chiều có thể tránh nhau được. Trước đây đó chỉ là những con đường thồ bằng xe đạp hay cho người đi bộ. Không chờ đường mở xong, những đoàn xe từ miền Bắc chở vũ khí, lương thực vào Nam rầm rập tiến về phía đồng bằng. Những đoàn cán bộ, bộ đội, dân công, vận chuyển, kẻ ngược người xuôi tấp nập. Có người gặp bạn bè, đồng hương ôm chầm nhau, cười nói hồn nhiên vui vẻ. Trên đường đi, tôi luôn gặp những khuôn mặt hồ hởi, vui vẻ, không đăm chiêu mệt mỏi như trước. Đêm đến, khi xin nghỉ nhờ ở cơ quan, đơn vị nào, chúng tôi cũng được đón tiếp vui vẻ nhiệt tình, khi chủ nhà biết chúng tôi là anh em văn nghệ đã mời đọc thơ, nói chuyện văn chương, thời sự và bồi dưỡng bằng cháo gà do đơn vị nuôi. Sáng hôm sau, khi đi gần tới nóc Ông Đồi (Quảng Nam) thì có một chiếc ô tô tải từ phía sau đi vụt qua chúng tôi rồi dừng lại. Người lái xe mở buồng lái vẫy chúng tôi: “Các anh đi về đâu?”. “Chúng tôi đi về phía Nam”. Anh ta vui vẻ: “Ở phía sau thùng xe còn rộng, lên đi, đi cho khỏe tội gì cuốc bộ. Ai xuống đâu gõ thùng tôi dừng lại, không gõ là tui hê luôn tới đường 19 đó”. Chúng tôi leo lên xe. Dễ chừng cũng đã 6, 7 năm mới được ngồi xe. Chúng tôi nói chuyện râm ran rồi hát, giọng ồ ồ: “Xe ta bon trên những dặm đường…” và “Chào em cô gái Lam Hồng…”, ai nhớ câu nào hát câu ấy, rồi cười đùa, trêu chọc nhau…

Đến cánh đồng Tà Ma (Quảng Ngãi) tôi và Phan Nghĩa An xin xuống xe, chia tay với các đoàn bạn. Từ Tà Ma, chúng tôi đi bộ 2 tiếng thì đến cơ quan Ban Tuyên huấn Quảng Ngãi. Vừa vào đến cơ quan, mọi người reo lên như đã chờ chúng tôi sẵn: “Chúng tớ biết thế nào các cậu ở khu cũng xuống mà”. Nhà thơ Hoài Hà, Vũ Hải Đoàn, họa sĩ Phạm Mùi tíu tít xuống nhà bếp bưng cơm, mì chay, cá hộp, đèo thêm đòn bánh tét nữa. Hoài Hà nói tự hào: “Ăn tết đây, ăn tết đây. Hôm nay các cậu nhớ ngày nào không. Mồng một đấy. Chúng tớ dành quà tết để bữa nay các cậu xuống sẽ đãi, tớ biết trên khu khổ lắm…”.

Hoài Hà nói đúng và thương chúng tôi khổ thật. Năm 1970, khi xuống công tác Quảng Ngãi, các anh cho tôi ăn chè đậu xanh, mì chay, cá hộp đến tức bụng. Dạo ấy cơ quan chúng tôi chỉ ăn thân cây dớn và rau rừng, thèm những thứ này lắm. Nhưng giờ thì khác…

“Tết này trên khu đỡ rồi, có kẹo, trà, rượu, thuốc lá miền Bắc gửi vào” - tôi nói. “Thế à. Bọn này tưởng mấy ông khổ như mấy năm trước, nhịn thèm chờ các ông xuống đó”. Nhà thơ Vũ Hải Đoàn rút bao thuốc Basto quân vụ ra nhem thèm bọn tôi: “Có thuốc lá miền Bắc rồi giờ có hút thuốc lá của lính địch không?”. Chúng tôi cười ngặt nghẽo rồi giơ tay xin. Hai ba hôm nay không còn thuốc, thèm quá…

Cũng trong thời gian này, số anh em còn lại ở cơ quan như Phan Tứ, Dương Hương Ly, Ngô Thế Oanh, Thái Bá Lợi, Vũ Thị Hồng, Nguyễn Bảo, Nguyễn Bá Thâm, Đỗ Văn Đông, Hoàng Minh Nhân cùng anh Nguyễn Chí Trung đã về Quảng Nam và Quảng Đà. Như vậy là lực lượng sáng tác văn học của khu đã có mặt hầu hết ở các tỉnh. Sau khi giải phóng các tỉnh Khu 5, chúng tôi không ngờ lại gặp nhau ở Sài Gòn. Bởi vì chúng tôi đã bám theo các đơn vị bộ đội cấp tốc hành quân vào thành phố lớn nhất của miền Nam…

THANH QUẾ