Như một ánh lấp lánh khiêm nhường

 NGUYỄN ĐÔNG NHẬT |

Dường như khi nói đến thơ Tagore, nhiều người vẫn nghĩ đến những vần thơ hướng về vẻ đẹp tâm linh trong sự nghiệp văn chương của thi hào Ấn Độ. Một số người khác chú ý khía cạnh tình yêu của ông dành cho mọi sinh vật và những người bình thường khốn khổ. Nhưng Rabindranath Tagore là một huyền thoại. Và như thế, như những nhà thơ lớn, tất cả những gì thuộc về sự sáng tạo của ông vừa đặt chân trên Mặt Đất rộng lớn vừa luôn hướng về Bầu Trời bao la. Bởi vì, như nhiều nhà nghiên cứu đã từng nói, vị thánh sư của Ấn Độ này là ca sĩ của Tình Yêu đối với muôn loài, là người chủ hôn cho cuộc giao phối giữa nền văn minh Đông và Tây, là người thâu tóm được những tinh túy giữa thơ ca truyền thống và hiện đại… Một ví dụ: về ý nghĩa của cuộc nhân sinh, R. Tagore cho rằng: “Ta chỉ chạm đến thực tiễn vô cùng ngay bên trong chúng ta khi tiếp nhận được sự thật trong sáng của tình thương hay của lòng thiện chứ không phải qua sự giải thích của giáo lý…”. Và suốt đời, thi hào đi tìm sự thật ấy, cái sự thật mà nếu phải gọi tên, thì đó là ngôi-nhà-đích-thực của con người, ngôi nhà vừa tồn tại giữa hiện kiếp vừa luôn hướng về những đời sống khác:

Tôi khát khao tìm thấy ngôi nhà của mình

Ở mọi nơi trong thế giới này trước khi từ biệt nó.

Ở Việt Nam, từ khoảng hơn nửa thế kỷ trước, đã có những người dịch thơ Tagore như Đỗ Khánh Hoan, Đào Xuân Quý… Trong vài năm gần đây, Bùi Xuân đã dịch hai tập thơ Tagore: Bầy chim lạc (2012), Mùa hái quả (2013).  Và nay là tập thứ ba: Người thoáng hiện (*).

Khi đề cập lĩnh vực dịch thuật, vẫn thường nghe nói: Dịch là phản. Dịch thơ lại càng dễ “phản” hơn nữa. Như trong bất kỳ công việc nào, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu - sáng tác, luôn luôn cần có sự đam mê, như là một lực đẩy cần thiết. Nhưng chỉ đam mê thôi thì chưa đủ, mà phải có hiểu biết về nghề nghiệp, vốn kiến thức, cả những phương tiện cần và đủ. Sự “thuận lợi” của Bùi Xuân trong việc chuyển ngữ có phải do chính anh là một nhà thơ và là nhà thơ đã từng viết nhiều bài theo thể thơ xuôi?
Có thể tìm thấy trong tập thơ dịch thứ ba này của Bùi Xuân những câu dịch vừa thoáng, vừa theo sát bản tiếng Anh. Một ví dụ: Who can imagine that aching overflow of splendour  which created you (Ai có thể tưởng tượng ra nỗi đau đớn tràn đầy lộng lẫy đã sáng tạo ra nàng!). Và cũng có thể thấy đâu đó vẫn còn đôi câu chuyển ngữ chưa diễn đạt được đầy đủ chất thơ: The dark clouds became white and thin, and in the rain-washed sky the sunny hours like butterflies over an unseen flower (Những đám mây đen trở nên trắng và mỏng, và trên bầu trời mưa - giội sạch có những giờ ánh nắng bay lượn như những cánh bướm vô hình trên hoa).

Điều đáng trân trọng là, khi dịch thơ R. Tagore, Bùi Xuân đã lặng lẽ đóng góp vào việc nâng cao trình độ đọc thơ của xã hội, giữa lúc không ít người làm thơ vẫn còn loay hoay tranh cãi về vần điệu hay không vần điệu, thế nào là thơ mới và thơ cũ trong khi thơ vẫn chảy đi, theo quy luật của dòng sống. Công việc thầm lặng ấy có thể xem như một ánh lấp lánh khiêm nhường điểm xuyết vào bảng tổng phổ sắc màu của đời sống. Chợt nhớ những dòng thơ cuối cùng mà thi hào Ấn Độ gửi lại cho người đời sau, như một câu hỏi, như một niềm hy vọng xót xa trước cái hữu hạn của kiếp-phận-người: “Bạn đọc ơi, bạn là ai, người sẽ đọc thơ tôi một trăm năm sau nữa? Tôi không sao có thể gửi đến bạn chỉ một đóa thôi trong vườn hoa phong phú của mùa xuân. Và chỉ một ánh thôi của đám mây vàng rực xa xôi”. Và ở đây là câu trả lời, cũng của chính R. Tagore, trong câu thơ cuối tập Người thoáng hiện: “Bước xuống từ khán phòng của người, bước xuống giữa niềm vui và nỗi buồn; giấu trong tất cả hình thức và niềm sung sướng, trong tình yêu và trong trái tim tôi; ở đó hát lên bài hát của người”.

Đó là thông điệp của nhà thơ gửi đến cuộc sống: một Tình-Yêu-Rộng.

 NGUYỄN ĐÔNG NHẬT
(*): The Fugitive – R. Tagore. Bùi Xuân dịch (theo bản dịch từ tiếng Bengal sang tiếng Anh của William Winstanley Pearson (1881-1923) do The Mac Millan Company xuất bản năm 1921) – NXB Đà Nẵng, quý II-2015.