"Thiền sư thi sĩ" Phạm Phú Hải

NGUYỄN NHÃ TIÊN |

Thi sĩ Phạm Phú Hải (1950 - 2009) quê Điện Ngọc, Điện Bàn. Trong Bách khoa toàn thư mở Wikipedia ghi: “ Ông sở hữu giọng thơ “ kỳ dị”, cộng với bệnh tâm thần, và gương mặt hao hao giống Trung niên thi sĩ nên được coi là “ Bùi Giáng thứ 2”. Ông chưa từng đi tu, nhưng do thơ có phong vị thiền nên còn được gọi là “ Thiền sư thi sĩ” .

Không hiểu sao mỗi khi lần đọc thơ Phạm Phú Hải, tâm thế tôi thường rơi vào trạng huống ám ảnh bởi sự huyền nhiệm. Huyền nhiệm về thi sĩ, huyền nhiệm về thế giới, huyền nhiệm về tình yêu. Cũng như Bùi Giáng thi sĩ “Thân con như thể thân rơi/ Một đêm mưa trút xuống đời cuồng điên”, cố nhiên Phạm Phú Hải không được nhiều người biết đến như Bùi thi sĩ. Mưa Bùi Giáng là vậy, còn mưa Phạm Phú Hải là mưa kiểu thế nào đây? “Những đêm mưa bão tưng bừng. Đầy căn gác nhỏ cây rừng mọc ra... Người ta là người với ta. Có bao nhiêu đó để mà trừng nhau. Này cô kia ở trên lầu. Áo thơm cô mặc có màu thịt tôi. Thịt tôi cô đã tường rồi. Bữa tôi cởi hết da ngồi cô xem. Đất trời cũng thứ lèm nhèm. Bão mưa như thể thằng điên lộn đầu” (Mưa bão).

Thiền sư Phạm Phú Hải. Ảnh: N.N.T
Thiền sư Phạm Phú Hải. Ảnh: N.N.T

Thơ như thế mà diễn dịch nó ra, định vị cho nó một vị thế tường minh này hay huyễn tưởng kia, thì chẳng khác nào lấy chân trời bao la kia mà nhốt vào con mắt hữu hạn thịt xương. Một thứ nhãn quan có tuyệt vời đến nhường nào, nói theo cách của những nhà dự báo thời tiết thì tầm nhìn xa (nếu trời tốt) cũng chỉ quan sát trong cái giới hạn hữu hình trên mười kilômét là cùng. Vậy chân trời của Phạm Phú Hải là đâu? Tôi thử “lý luận” theo kiểu (thơ) Phạm Phú Hải: “Có bàn chân dài hơn con đường. Nên chân trời là những đốt xương. Của ai bỏ lại ngàn năm trước. Sửng sốt kêu lên tiếng dị thường” (Thi sĩ). Vâng, chân trời của nhà thơ nó vừa cụ thể, vừa siêu hình như thế đấy, nghĩa là muốn đến cái miền thẳm ấy thì anh (hay chị) phải đạt được cái “tiêu chuẩn” của kẻ có bàn chân dài hơn con đường. Mà từ cổ - kim - đông - tây đã có mấy ai bước những bước chân huyền nhiệm như thi sĩ. Vọng tưởng hay là gì tôi không rõ, nhưng quả thật có một chân trời (người đi) đã bỏ lại thanh âm (dấu) trên đường. Nhưng ở đây ý niệm biểu đạt không là “những đốt xương” mà là “con người có đế giày bằng gió” - một “thực thể ngôn ngữ” của Rimbaud trong tác phẩm Illuminations (Thần cảm).

Có sự tương quan gì ở đây, hay là khoảnh khắc xuất hiện mang hơi hướm thần ngôn (logos) mà các nhà phân tâm học thường cho rằng đấy là tình huống xuất hiện của thời điểm huyền thoại nào đó (tinh anh phát tiết) ghi dấu cường độ cảm xúc đặc biệt. “Lạnh mùa thu lạnh trong núi đá. Có con cá nhỏ chết bên cầu. Có con chim nhỏ vì vui quá. Cũng chết bên cầu ấy bữa xưa. Có một thư sinh lên núi đá. Hỏi thăm đường tới chốn bất lai. Trăng khuya úp mở sau ngàn lá. Bướm đỏ đàn đàn chấp chới bay. Có lão tiều phu trong núi đá. Mười năm say hương quế, quên về. Lều dựng gió đầy rung mái gió. Một bầu cổ nguyệt chảy tràn khuya.” (A, AA, AAA, AAAA...). Thế giới thơ Phạm Phú Hải là một thế giới khu biệt. Có người vì yêu quá, gọi thi sĩ là “Bùi Giáng thứ hai”, yêu như thế thì khác nào “bằng mười phụ nhau”. Tôi không muốn so sánh Phạm Phú Hải với bất kỳ ai, con đường thi sĩ ngao du qua cuộc đời này là con đường lặng lẽ và độc hành. Mà Phạm Phú Hải đã nói: “Một năm có bốn mùa nhưng tôi biết có một mùa thứ năm/ Không gian có bốn phương nhưng tôi biết có một phương thứ năm/ Tôi đang sống/ Trong mùa và phương không tên gọi đó”.

Có đến hàng ngàn bài thơ Phạm Phú Hải đã viết, tự đánh máy thành tập, hoặc những bài anh viết phát tán trong anh em, những kẻ anh quen, những người anh ký gởi tâm tình. Bao nhiêu rồi có khi chính thi sĩ cũng không thể nào nhớ nổi. Nhớ lại lúc sinh thời, những ngày anh nằm trên giường bệnh, tôi và một người bạn thân thiết với Phạm Phú Hải - chị Thái Ngọc Loan, đến thăm thi sĩ, tiện thể mang báo biếu và tiền nhuận bút đến cho anh. Đau nằm liệt giường, vậy mà Phạm Phú Hải đòi ngồi dậy lấy kính đeo vào mắt để đọc thơ, ánh nhìn trong veo của thi sĩ vẫn sáng tinh anh long lanh một cách lạ thường. Hình ảnh đó khiến tôi chợt nhớ tới nhà thơ Trinh Đường lúc ông bệnh nặng gần đến giờ lâm chung, vậy mà khi nghe Cúc Tần (con gái nhà thơ) bảo có chúng tôi đến thăm, đôi mắt của ông cũng ánh lên sáng long lanh, và rồi ông cố lần tay xuống gối tìm thơ để đọc. Đến khi nghe con gái bảo: “Con đã đem hết bản thảo của bố về nhà rồi” (đấy là những bài di cảo nhà thơ đã viết trên giường bệnh), lúc ấy ông mới chịu nằm yên. Những con mắt thơ ánh lên ánh sáng cuối cùng của vô thức, năng lượng đó cũng có thể giải thích cho ta hiểu khả năng thăng hoa của một tính cách mà Freud gọi là tố chất bẩm sinh bí mật.

Cho dù mọi cách nghiên cứu hay lý luận phê bình nào về thơ Phạm Phú Hải, với tôi, dường như mọi kết quả chỉ là chút ánh sáng yếu ớt mỏng manh chiếu vào mênh mông một cõi thơ quá đỗi dị thường: “Có một hôm kia máu chợt buồn. Cơn đau trồi máu lạnh trên sông. Trồi tôi giữa một bầy phong vũ. Nhe hết nanh ra gặm hết hồn. Tôi ở đây giữa một bầy cô độc. Tôi khóc theo từng tiếng hú xưa. Rồi tôi cũng hú như tôi đã. Khóc rống khi đưa gió nhập mùa. Tôi vọng tíêng tôi về núi đá. Núi đá ngàn năm vẫn lặng im. Mấy ai hiểu được hồn ưu uất. Của kẻ qua sông tự thả chìm” (Máu chợt buồn).

Vâng, mấy ai hiểu được. Có hỏi thi sĩ thì đôi mắt tinh anh trẻ thơ kia chợt ánh lên. Và đấy là một sự trả lời. Thơ ấy, có thể nói, chẳng phải thi sĩ chải chuốt, kiểu cách gắng gỏi làm cho nó hay, cho nó đẹp, mà nó tự hay, tự đẹp, tự phát tiết cuồng phong từ một tâm hồn thi ca triệt để trút ra bộc lộ tiếng thơ như một thứ thần ngôn (logos) vang dội và bất tuyệt! Cái hay, có thể nói đạt tới mức siêu việt như tự đất trời sinh nở ra thi sĩ, để Phạm Phú Hải dốc hết máu xương mà “Câu thơ nhỏ đỏ con tim. Ta lê theo suốt cuộc tìm đớn đau”!

NGUYỄN NHÃ TIÊN