Viết về đề tài Chiến tranh cách mạng

Lên đường từ tuổi trẻ thơ

PHẠM THÔNG |

Tối hôm đó Tư Đặng mời cơ sở họp tại một địa điểm bí mật, có cả người yêu kẻ chiêu hồi dự. Anh công khai: “Tôi rất mừng là Kỳ Xuân vẫn còn yên, các cơ sở vẫn móc nối lại được qua chuyến đi công tác này”. Anh còn cố ý hé lộ đường đi đồng thời mật chỉ cơ sở trung kiên theo dõi hành tung của cặp tình nhân này. Xong cuộc hội ý chớp nhoáng, hai anh từ biệt bà con lên đường. Ngay trong đêm đó, bọn địch bố trí phục kích các nẻo đường nhằm tiêu diệt các anh ở xa địa bàn Kỳ Xuân. Chúng phục kích ta như thế là cặp tình nhân kia vô can, ngoại phạm để có thể phá ta lâu dài.

Lên đường từ tuổi trẻ thơ

PHẠM THÔNG |

(Tiếp theo kỳ trước)

Sau Mậu Thân 1968, Tư Đặng được điều về Ban Tài mậu tỉnh, tiếp tục làm công tác mậu dịch ở các huyện cánh Nam. Sau thời gian, Tỉnh ủy lại quyết định chuyển anh về huyện Nam Tam Kỳ, bổ sung vào Ban Thường vụ Huyện ủy, phụ trách Trưởng ban Tổ chức kiêm Trưởng ban Tuyên huấn. Đây là giai đoạn chuyển hướng hoạt động của Tư Đặng, anh trở thành một cán bộ chính trị mang tính “chuyên nghiệp” hơn trước.

Lên đường từ tuổi trẻ thơ

PHẠM THÔNG |

Ngày 18.8.1945, nhân dân các làng Sung Mỹ, Phái Nhơn, Vĩnh Đại hưởng ứng lệnh bạo động của Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền ở làng xã. Cậu bé 12 tuổi Đặng Đình Ngoạt mà bà con trong làng thường gọi là Bốn Ngoạt liền nhổ chân chạy theo đoàn quần chúng lao khổ, khí thế ngút trời kéo bộ về Phủ đường Tam Kỳ, cùng với nhân dân khắp nơi bắt tri phủ đương nhiệm Trần Kiêm Lý giao nộp ấn triện cho chính quyền cách mạng.

"Thủ đô kháng chiến" ở xứ Quảng

LÊ NĂNG ĐÔNG |

Tháng 7.1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, tuy nhiên kẻ thù lập tức xé bỏ. Ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách tố cộng, diệt cộng rất tàn bạo.

Ký ức không quên về ngày giải phóng Tiên Phước

VÕ TƯỞNG |

Cuối tháng 2.1975 đội tuyên truyền của tôi đang đứng chân tại xã Kỳ Phước, huyện Bắc Tam Kỳ (nay là xã Tam Lộc, Phú Ninh), được lãnh đạo Ban Binh địch vận tỉnh điều về cơ quan. Lúc này Ban Binh địch vận tỉnh đóng tại xã Phước Sơn, huyện Quế Tiên (nay là xã Tiên Sơn, Tiên Phước). Về đến cơ quan tôi được biết sắp mở chiến dịch xuân hè. Vài ngày sau, đồng chí Trần Minh - Phó Trưởng ban Thường trực gọi toàn đội lên giao nhiệm vụ tham gia chiến địch giải phóng Tiên Phước, đồng thời phân công tôi trực tiếp đi hợp đồng phối hợp cụ thể. Đội chúng tôi lúc đó gồm 3 người, ngoài tôi còn có các đồng chí Ngô Thị Vinh và Vũ Đình Diêm (đồng chí Diêm sau này là Trưởng Công an TP.Tam Kỳ; đồng chí Vinh nghỉ mất sức).

Người phụ nữ kiên cường, chung thủy

DUY THỦY |

Cuối năm 1962, một số cơ sở của ta có người Quảng Nam hoạt động ở Sài Gòn bị lộ. Ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn ráo riết lùng sục, bắt bớ, tổ chức quyết định chuyển bà Điểm về Rạch Giá (nay là Kiên Giang) công tác. Rạch Giá là tỉnh có một số vùng được giải phóng sau năm 1960, nhưng đời sống nhân dân còn nghèo, trẻ em và nhiều người lớn chưa biết chữ hoặc biết sơ sơ, hiểu biết về đường lối cách mạng vẫn hạn chế. Biết bà Điểm đã học hết lớp 7 phổ thông tại Tam Kỳ, tổ chức tỉnh Rạch Giá phân công bà về Ban Tuyên huấn huyện An Biên, làm trưởng ngành giáo dục, cùng đồng nghiệp tiếp tổ chức lớp và tham gia giảng dạy văn hóa cho thiếu niên, dạy bình dân học vụ, bổ túc văn hóa, bồi dưỡng trình độ chính trị  cho thanh niên, nhân dân và cán bộ địa phương.

Người phụ nữ kiên cường, chung thủy

DUY THỦY |

Bà là Trần Thị Điểm, quê Quảng Nam, cán bộ hưu trí đang sống cùng gia đình tại khu tập thể cán bộ Trung ương, số 261 Thụy Khuê, Hà Nội.

“Ba mũi giáp công” của đất và người Sơn Trung

PHẠM THÔNG |

Thời khắc này nổi lên người hùng Võ Quốc Dĩnh. Chính lá cờ cắm sát đồn Hòn Giang khi chúng vừa đến chiếm đóng là từ tay anh. Anh cùng du kích đào hố chôn cột cờ, tự tay kéo cờ trong đêm hôm ấy. 

“Ba mũi giáp công” của đất và người Sơn Trung

TRUYỆN KÝ CỦA PHẠM THÔNG |

(Tiếp theo kỳ trước)

Thời khắc sôi động nhất, gấp gáp, cam go và khí thế nhất là những ngày tranh đấu cắm cờ giành đất, giữ đất giữa ta và địch ngay sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực. Nhận chủ trương của Huyện ủy, Đảng ủy Sơn Trung tập trung huy động lực lượng quân dân chính tại xã nhà, chia làm bốn tổ: Hai tổ cắm cờ; một tổ sẵn sàng đánh địch khi chúng phản bội tấn công; một tổ làm công tác tuyên truyền binh địch vận. Phân công là vậy, nhưng các tổ đều có thể kết hợp làm tất cả các khâu công tác khi cần thiết.

“Ba mũi giáp công” của đất và người Sơn Trung

TRUYỆN KÝ CỦA PHẠM THÔNG |

Sơn Trung ở phía đông bắc của quận lỵ, có địa thế và vị trí đặc biệt ở vùng trung Quế Sơn. Phía bắc chạm chân núi Hòn Tàu, một dãy núi đồ sộ, rừng rậm, hiểm trở liên hoàn về phía tây là Bằng Thùng, Núi Lớn... thông tới Hòn Kẽm, Đá Dừng nằm ở hai bờ đầu nguồn sông Thu Bồn. Chân đằng đông của dãy núi này đổ xuống sát Phú Diên thuộc vùng đồng bằng Quế Sơn. Phía tây có dãy Động Mông - Đá Hàm chạy từ đường 105 ra hướng bắc nối với Hòn Tàu. Phía đông lại được án ngữ bởi dãy núi mọc từ chân Hòn Tàu đổ về phía nam, giáp với đường 105.

Những nẻo đường ra trận

PHẠM THÔNG |

Từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1963, Tiểu đoàn 70 được sự hỗ trợ đắc lực của bộ đội chủ lực Khu 5 đứng chân trên địa bàn tỉnh, cùng lực lượng vũ trang của các huyện, du kích các xã vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh, phân tán khi địch mạnh, tập trung cường kích khi địch co cụm, liên tục tiến công bằng đủ các hình thức như: chông thò, mìn, lựu đạn, bắn bia, bắn tỉa, đánh nhỏ, đánh lớn; từ tiêu hao đến tiêu diệt... không cho kẻ địch có giờ phút bình yên. Sau 3 tháng càn quét hòng bình định lại phần đất mất quyền kiểm soát, cuộc hành quân “Bình Châu - Bạch Phượng” của địch bị quân và dân ta đánh bại hoàn toàn, vùng giải phóng nam Quảng Nam không chỉ giữ vững mà còn được mở rộng, khí thế cách mạng dâng cao.

Những nẻo đường ra trận

PHẠM THÔNG |

Sau chiến dịch giải phóng hai xã Phước Lãnh, Phước Ngọc - huyện Tiên Phước, trước đà thắng lợi, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng do đồng chí Phạm Tứ (Mười Khôi) làm Bí thư, chỉ thị cho đồng chí Tỉnh đội trưởng Quách Tử Hấp quy tụ các đại đội độc lập về Phước Lãnh, bổ sung thêm thanh niên rút từ các huyện đồng bằng nam Quảng Nam như Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước lên vùng giải phóng Lãnh - Ngọc thành lập Tiểu đoàn 70 gồm 4 đại đội, trong đó Đại đội H30 và H21 là những đơn vị tiền thân của tiểu đoàn. Như vậy trên chiến trường cánh nam Quảng Nam - Đà Nẵng lúc này đã có 3 thứ quân với quy mô lớn hơn trước nhiều lần: Chủ lực Khu có Trung Đoàn 1 bộ binh (biệt danh là Công trường I); bộ đội tỉnh có Tiểu đoàn 70 cùng với nhiều đơn vị vũ trang độc lập khác trực thuộc quân khu và tỉnh đội; các huyện có trung đội hoặc đại đội cộng với hàng trăm đơn vị du kích thôn xã thuộc vùng giải phóng ở miền núi và giáp ranh. Sự kiện ra đời Tiểu đoàn 70 đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng cách mạng Quảng Nam - Đà Nẵng.

Những nẻo đường ra trận

PHẠM THÔNG |

Thằng Cát bám theo hai người đàn ông. Hai người bước vừa phải, nhưng Cát phải lúp xúp chạy mới theo kịp, mệt bở hơi tai. Gần hai tiếng đồng hồ, ba người đến một xóm nhà thưa thớt tựa lưng vào hóc núi. Thằng Cát với anh Lân liên lạc cho Năm Cần vào nhà ông Nghị dưới bìa hố, ông Năm bước lên những bậc đá xếp, vào một nhà khác. Ở đó đã có người của Ban chỉ huy Tiểu đoàn 70 ngồi chờ sẵn. Ông đến, họ vào cuộc họp ngay. Đánh trận Quán Rường sáng nay thắng lớn, diệt gọn trung đội lính bảo an. Các ông bàn rút kinh nghiệm và khuếch trương chiến thắng trong toàn đơn vị vào ngày mai.

Chuyện người binh sĩ đi tìm anh Giải phóng quân

MAI XUÂN HƯƠNG |

1. Cuối năm 1971 Mỹ rút hết quân ở các căn cứ Quế Sơn, thay chân đóng giữ là các trung đoàn chủ lực của ngụy. Bước sang năm 1972, để tiêu diệt Cấm Dơi, Quân khu 5 chỉ đạo đánh 2 chốt điểm Gò Đá - Quế Thuận và đồn An Xuân - Quế Mỹ (nay là Phú Thọ) để cắt đứt chi viện. Đầu tháng 4.1972 sau khi chuẩn bị chiến trường, Trung đoàn 31 điều động Tiểu đoàn 8 và tăng cường hòa lực mạnh DKZ cối 82, cối 120 cùng lực lượng bộ đội địa phương huyện và du kích các xã dọc đường 105 tiêu diệt đồn An Xuân và Gò Đá. 

Căn cứ lòng dân

PHẠM THÔNG |

Cuối năm 1973 đầu năm 1974 đường Đông Trường Sơn rẽ nhánh thọc thẳng xuống Sơn Thọ, Quế Tiên (Hiệp Đức). Từ đây, xe zin 3 cầu theo đường mới mở chở vũ khí, lương thực băng đèo Răm đổ xuống Sơn Long, Sơn Thạch, vượt đèo Le ra Sơn Phúc, phục vụ chiến dịch giải phóng Nông Sơn - Trung Phước. 

Căn cứ lòng dân (tiếp theo)

PHẠM THÔNG |

Nó là cách mạng từ trên Trường Sơn tiến về giải phóng Sơn Long, Sơn Thạch, nhưng thực ra lực lượng vũ trang tại thời điểm này còn quá mỏng. Cả Quế Sơn chỉ có một đại đội tập trung, tỉnh Quảng Nam có Tiểu đoàn 70; chủ lực khu đứng chân tại chiến trường Quảng Nam, Quảng Đà, Bắc Quảng Ngãi có vài trung đoàn. Quân ta quá ít lại rải trên diện rộng để hỗ trợ phong trào nổi dậy của quần chúng khắp nơi.

Căn cứ lòng dân

PHẠM THÔNG |

Xã Quế Phong (Quế Sơn) hiện nay bao gồm các thôn thuộc hai xã Sơn Long, Sơn Thạch thời kháng chiến chống Mỹ, phía bắc và tây bắc án ngữ bởi dãy núi Hòn Tàu và Bằng Thùng, phía tây nam là Núi Lớn - Rừng Già, phía nam và đông nam hướng ra đồng bằng thung lũng Quế Sơn được che chắn bởi cụm núi Hòn Chiêng, Dương Trúc, Dương Là. 

Lòng dân Phú Phong với cách mạng (tiếp theo và hết)

Phạm Thông |

Một hôm địch từ Hà Lam kéo ra vây hãm Đồng Tràm bắt được hai du kích là Đinh Văn Thạnh và Đinh Văn Đủ dẫn tới xóm Giữa trói chặt ở gốc cây rồi vào quán bà Ca ăn bánh bèo. Bà Ca đem cả canh rượu mời chúng. Trong lúc chúng say sưa, bà Ca bỏ túi con dao xếp lén ra cắt dây. Khi bà vào lại nhà mời mọc chúng, hai anh Thạnh, Đủ sè sẹ ra phía sau vọt chạy. Đến khi bọn lính giật mình quơ súng nạp theo, hai anh đã mất hút. Bà Ca giao tiếp ngọt như đường phèn, chúng không nghi ngờ bà được. Bọn lính tức khí bắn loạn xạ rồi bỏ đi. 

Lòng dân Phú Phong với cách mạng (tiếp theo)

Phạm Thông |

Trong khí thế đồng khởi, địch hoảng loạn bỏ chạy ra Bà Rén, có tên chạy luôn xuống Hội An, ra Đà Nẵng, vô Hà Lam - Thăng Bình. Nhưng sau đó chúng củng cố lại lực lượng phản kích. Từ các cứ điểm, từ vùng địch chiếm chúng thường xuyên triển khai quân càn quét vào Trà Đình, Đồng Tràm, Hương Yên. Du kích dựa giao thông hào, công sự, chiến đấu đánh bật hàng trăm cuộc tiến công của địch trong suốt mấy năm trời.

Cây đa Chợ Đình - chứng nhân lịch sử

PHAN VINH |

“Tôi nằm trên cành cây to, lấy lá phủ lên người để ngụy trang. Thấy địch đã tụ tập đông đủ, chúng tôi được lệnh kích nổ quả mìn. Sau đó, hàng chục quả lựu đạn được chúng tôi ném xuống…”.