Chuyện một gia đình

(Ghi theo lời kể của ông Nguyễn Thanh Tân, Quế Xuân 1, Quế Sơn) PHẠM THÔNG |

Đoàn Lời (ở thôn 6 xã Phú Thạnh cũ, nay là thôn Dưỡng Mông Tây, Quế Xuân 1, Quế Sơn) là du kích thời chống Pháp. Vợ chết sớm, ông sống cảnh gà trống nuôi con. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông không đi tập kết, vì vậy đã phải ném trải và chứng kiến tận mắt sự đàn áp của kẻ thù. Đầu năm 1965, cùng với các xã vùng Đông Quảng Nam, Phú Thạnh được giải phóng. Cha con Đoàn Lời lập tức tham gia công tác cách mạng. Đoàn Lời được phân công làm Thôn đội trưởng, con trai cả Đoàn Thanh (Hai Lời) và con trai thứ Đoàn Đình cũng vừa đủ lớn để tham gia du kích. Riêng Đoàn Mau (con út) còn nhỏ, được phân công cảnh giới, báo tin. Thời kháng Pháp, Phú Thạnh là địa bàn giáp ranh giữa vùng tự do của Việt Minh và quân đội Pháp chiếm đóng. Thời đó, lính Pháp ở phía bên kia sông Thu Bồn thường mở nhiều cuộc càn quét về phía nam sông, đánh phá vùng tự do Quảng Nam. Đây là vùng tiền tiêu, ông Lời là du kích nên đã từng dự chiến nhiều trận, có kinh nghiệm đánh địch bảo vệ vùng tự do của ta ngay trong thời chống Pháp.

Thôn 6 Phú Thạnh cũ ở gần cầu Bà Rén - nơi có chốt điểm rất cứng để bảo vệ các cơ quan Hội đồng ngụy 3 xã: Phú Thạnh, Phú Diên, Phú Phong đã bị mất đất, chạy về đồn trú. Từ đây, lính Bảo an liên kết nghĩa quân 3 xã thường xuyên nống lên càn quét, hòng chiếm lại vùng giải phóng của ta. Đoàn Lời cùng anh em du kích huy động toàn dân cải biến hàng rào ấp chiến lược của địch thành 3 lớp hàng rào chiến đấu của ta ở phía đầu đông bắc thôn 6; bố trí giao thông hào và các ụ chiến đấu để chống địch từ hướng Bà Rén càn tới. Trong mấy năm trời, nhờ sự yểm trợ của du kích xã và sự che chở của nhân dân, 3 cha con Đoàn Lời ngày đêm đánh địch hết sức ngoan cường, góp phần giữ vững vùng giải phóng.

Sau chiến dịch xuân Mậu Thân, địch phản kích quyết liệt. Lính thủy đánh bộ Mỹ phối hợp với lính ngụy liên tục mở nhiều cuộc càn quét, tấn công trở lại nhiều chốt điểm trên đất Phú Thạnh, Phú Diên và cả vùng đông Quế Sơn, Duy Xuyên, Thăng Bình, đẩy cuộc chiến nơi đây đến đỉnh điểm ác liệt. Cuộc chiến quá ác liệt, đồng đội, đồng chí của cha con ông lần lượt hy sinh. Nằm đêm, nghĩ đến các con đang phơi phới tuổi thanh xuân, hai hàng nước mắt ông chảy dài. Đấu tranh mãi, ông mới nói ra những lời gan ruột với các đồng chí lãnh đạo xã: “Tôi cũng đã luống tuổi, cái thân già này không tiếc, nhưng các anh làm sao có cách giữ cho được thằng Mau, con út của tôi”.

Ông luôn xác định làm cách mạng thì phải hy sinh, nhưng thằng Mau con ông còn quá trẻ. Mà cớ chi, cha con ông không được phép sống, dù chỉ một người. Suy nghĩ mãi ông mới mạnh dạn có ý kiến như thế với cấp trên. Ông xin cho thằng Mau lên chiến khu. Nhưng ngặt một nỗi, khi ông thổ lộ ý kiến thì bị chính con trai phản đối. Thằng Mau nhất quyết không đi đâu cả, quyết ở lại để cùng sống cùng chết với cha và các anh. Nhưng người cha dù có yêu nước, yêu quê hương đến đâu cũng phải lo lắng trước sự sống chết của con cái. Ông Lời thường dặn các con: “Tụi bay không được nấp chung một hầm bí mật. Khi chiến đấu, không được ở sát nhau. Để không may, rủi đứa này thì còn đứa khác”.

Nói là vậy, nhưng trong nhiều tình thế bắt buộc họ cũng phải ở bên nhau. Một hôm 3 cha con Đoàn Lời, Đoàn Thanh, Đoàn Đình không hẹn mà cùng một lúc về nhà. Bất ngờ, một chiếc tàu rọ bay tới phát hiện. Bí thế, cha con ông nhảy xuống hầm tránh pháo ở giữa nhà. Cha con ông Lời thừa biết, tàu rọ hễ phát hiện được người là chúng quyết bắt sống, không thì giết chết cho bằng được. Trong thế tử, phải chủ động. Khi chiếc tàu rọ quần sát, rồi dừng ngay trên mái nhà, quay tròn đít quạt mạnh để hất tung mái tôn. Nhanh như chớp, cùng một lúc 3 cha con nhảy lên khỏi miệng hầm, giương súng bắn xuyên mái tôn. Chiếc tàu rọ ăn gọn ba loạt đạn, vụt lên cao rồi lảo đảo rơi ầm xuống giữa cánh đồng cách nhà ông mấy trăm mét. Trong lúc bọn trực thăng chiến đấu chưa kịp chúi xuống phóng rốc-kết, cha con ông đã phóng ra xa, lẩn vào rặng tre còn sót lại, mất dạng.

Chuyện đánh giặc của cha con Đoàn Lời thì nhiều vô kể. Mưu trí nhất là ông Lời nhưng đánh giặc táo bạo nhất và đánh nhiều kiểu cách nhất là Đoàn Thanh. Đêm nằm, Thanh lắng tai nghe có quả pháo hoặc quả cối nào địch bắn tới bị lép, sáng ra liền cho du kích tìm khiêng về cải tiến thành mìn chống tăng, gài đánh bộ binh đi càn quét. Khi trở thành Xã đội phó rồi Xã đội trưởng Phú Thạnh, Đoàn Thanh cho du kích lập sơ đồ bố trí nhiều bãi mìn rất hiểm hóc, khiến bọn địch mỗi lần tiến vào làng đều phải thương vong. Anh bố trí bãi mìn giỏi đến mức đánh tan được một chiếc máy bay HU1B cùng toàn bộ lính Mỹ trên chiếc máy bay đó, lúc nó vừa chạm đất ở một bãi trống giữa làng. Đoàn Thanh nổi tiếng nhất là “bắn tỉa”. Tính từ 1965 đến 1971, riêng anh đã bắn tỉa, diệt được 108 lính Mỹ và ngụy.

Cuộc chiến quá ác liệt, cha con Đoàn Lời đánh quá nhiều trận, luôn đối mặt với hiểm nguy nên lần lượt hy sinh. Từ năm 1969 đến năm 1971, 3 cha con ông đều anh dũng ngã xuống trên mảnh đất quê hương. Riêng Đoàn Mau, năm 1968 bị bắt trên đường đi công tác và địch đưa anh ra giam tại nhà tù Phú Quốc.

Năm 1973, sau khi Hiệp định Pa-ri ký kết, Đoàn Mau được trao trả. Lúc Mau ra tù, cha và các anh đã hy sinh. Lẽ ra anh được Huyện ủy cử đi an dưỡng và học tập ở miền Bắc. Nhưng một lần nữa, anh giấu tông tích, giấu hoàn cảnh gia đình để thực hiện lời thề ngày trước với cha mình. Vì  nước, vì dân, vì trả mối thù nhà, anh quyết tiếp tục ra trận. Cấp trên đưa anh về Đại đội công binh của Tỉnh đội Quảng Nam. Năm 1974, bọn địch phản bội Hiệp định Pa-ri cho quân lấn chiếm vùng giải phóng. Đoàn Mau xung phong ra trận. Anh được phân công làm Tiểu đội trưởng, dẫn quân về quê Phú Diên, chiếm đỉnh cao Hòn Dang để chốt chặn địch. Tiểu đội anh phụ trách đã chiến đấu quyết liệt suốt một ngày, bẻ gãy nhiều đợt tiến quân của địch. Và rồi, người con cuối cùng của ông Lời cũng đã anh dũng hy sinh.

(Ghi theo lời kể của ông Nguyễn Thanh Tân, Quế Xuân 1, Quế Sơn)
PHẠM THÔNG