Cuộc di tản ngày 12.5.1968 (tiếp theo và hết)

NGUYỄN TƯỜNG VÂN (Phó Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Phước Sơn) |

Lệnh di tản khẩn cấp

Sau khi Ngok-Ta-Vát bị tiêu diệt, Khâm Đức bị bao vây, kế hoạch tăng viện của Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV) không thực thi được. Đại tướng Westmoreland cho rằng Khâm Đức không đủ sức chống lại sức mạnh của quân Giải phóng và ra lệnh di tản binh sĩ Đồng minh khỏi căn cứ.

Các vận tải cơ cỡ lớn của Mỹ giải cứu quân Đồng minh tại Khâm Đức. Ảnh tư liệu
Các vận tải cơ cỡ lớn của Mỹ giải cứu quân Đồng minh tại Khâm Đức. Ảnh tư liệu

Trong kế hoạch, cuộc di tản sẽ thực hiện bằng trực thăng, nhưng khi máy bay vừa đến bầu trời Khâm Đức thì hỏa lực của quân Giải phóng đã tấn công khắp mọi nơi. Nhiều máy bay bị bắn rơi và chương trình di tản phải tạm ngưng. Lúc này tinh thần binh sĩ Mỹ ngụy hoang mang tột độ. Bởi họ không tin vào cuộc di tản thành công. Buổi sáng hôm đó, một vận tải cơ C-130 thuộc phi đoàn 21 Không vận Hoa Kỳ đáp xuống sân bay mang theo kiện hàng tiếp tế và chuẩn bị cuộc di tản. Khi máy bay vừa ngừng trên phi đạo, một đám đông quân Mỹ ngụy xô nhau chen lên máy bay thoát thân giữa tiếng súng của quân Giải phóng nổ giòn và tiếng đại bác đanh tai. Nhưng rồi chiếc phi cơ này bị trúng đạn, không cất cánh được. Cùng lúc đó, một vận tải cơ C-123 đáp xuống phi đạo “bốc” một số binh sĩ Mỹ ngụy rồi vội vàng cất cánh bay đi. Chiếc C-130 bị trúng đạn trước đó cũng đã được khắc phục, bay về Cam Ranh. Toán điều không tiếp tục điều hành một phi cơ C-130 khác đến thực hiện cuộc di tản.

Trước hỏa lực quá mạnh của lực lượng phòng không quân Giải phóng, Đại tướng Westmoreland lệnh thực hiện cuộc di tản bằng vận tải cơ cỡ lớn C-130.

Cuộc di tản thất bại

Chiếc C-130 cỡ lớn đầu tiên đáp xuống sân bay Khâm Đức “bốc” hơn 200 quân lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ và lực lượng dân sự chiến đấu (thuộc lực lượng đặc biệt Việt Nam Cộng hòa) rồi vội vã bay đi. Một chiếc C-130B chưa kịp đáp xuống đã bị trúng đạn lảo đảo rơi ngoài phi đạo rồi nổ tung. Chiếc AC-130E do Trung tá Bill Boyd đáp xuống tiếp theo, khi cất cánh ông chọn chiều ngược lại và bay thoát. Chiếc AC-130 thứ 3 vừa đáp xuống sân bay thì bị trúng đạn. Nhưng viên phi công đã cố gắng điều khiển tách nó ra bên lề phi đạo để không trở ngại cho các phi cơ khác thực hiện cuộc di tản.

Theo báo cáo từ phía Mỹ, tổn thất trong cuộc di tản cứ điểm quân sự Khâm Đức, ngày 12.5.1968, phía Đồng minh có 259 dân sự chiến đấu (Biệt kích Lôi Hổ) tử trận, hơn 100 người chết trong chiếc phi cơ C-130 bị bắn rơi, 25 quân nhân Hoa Kỳ và hơn 100 quân nhân thuộc Sư đoàn Bộ binh số 2 (Quân lực Việt Nam Cộng hòa) tử trận và hàng trăm quân nhân Mỹ ngụy mất tích. Hai trực thăng CH-47 Chinook (AC-475, 469), 2 trực thăng CH-46 của thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, 2 vận tải cơ C-130 của không quân, 1 trực thăng UH-1 của lục quân và 1 máy bay quan sát O-2 của Mỹ bị bắn rơi.

Để yểm trợ cho cuộc di tản, Bộ Chỉ huy Không lực Hoa Kỳ ra lệnh cho máy bay phản lực từ căn cứ Chu Lai và Đà Nẵng ném bom dữ dội chung quanh phi đạo Khâm Đức để ngăn bước tiến của quân Giải phóng. Lợi dụng lúc quân Giải phóng lo đánh trả máy bay oanh kích, chiếc phi cơ thứ 4 cũng đáp xuống “bốc” theo một số quân Mỹ ngụy đưa đi. Ba chiếc tiếp theo và các trực thăng của lục quân và thủy quân lục chiến Hoa Kỳ cũng vội vã đưa được một số tàn quân tháo chạy... Cuối cùng là chiếc C-123 đem về được 3 quân nhân toán điều không được điều đến trước đó từ sân bay Tân Sơn Nhất (Sài Gòn).

Theo báo cáo của Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ (MACV), cuộc di tản chưa kịp hoàn tất thì Khâm Đức đã tràn ngập quân Giải phóng, buộc phản lực cơ phải oanh kích vào phi đạo để phá hủy các khí tài, quân trang, quân dụng còn bỏ lại. Và chỉ hơn 500 trong tổng số 1.400 quân Đồng minh (gồm Mỹ, Úc và Việt Nam Cộng hòa) được cứu thoát. Trong số bị “kẹt” lại, còn nhiều binh sĩ thuộc Lữ đoàn 196 (bộ binh nhẹ) bảo vệ các cứ điểm xung quanh Khâm Đức, cùng với số đông lực lượng dân sự chiến đấu (Biệt kích Lôi Hổ, thuộc lực lượng đặc biệt Việt Nam cộng hòa). Chỉ có khoảng 12 quân nhân Hoa Kỳ thuộc Lữ đoàn 196 được trực thăng cứu thoát khi lẩn trốn trong rừng và một quân nhân Mỹ bị quân giải phóng bắt làm tù binh.

Chiến thắng Khâm Đức - Ngok-Ta-Vát ngày 12.5.1968 là chiến thắng lớn nhất trên chiến trường miền núi Quảng Nam lúc bấy giờ. Chiến thắng này đã khai thông hành lang chiến lược đông và tây Trường Sơn, mở toang “cánh cửa thép” vào hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh, nối hậu phương lớn miền Bắc với khu 4, khu 5, Tây Nguyên, Hạ Lào và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Đồng thời, mở ra con đường vận tải cơ giới xuống vùng giáp ranh đồng bằng. Chiến thắng làm nức lòng đồng bào, cán bộ, chiến sĩ toàn huyện, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta, bảo vệ vững chắc vùng hậu cứ cách mạng, góp phần làm nên chiến thắng 30.4.1975.

____________________
Tài liệu tham khảo:
- Lịch sử Đảng bộ huyện Phước Sơn (tập I, xuất bản năm 2001);
- Davies, Bruce (2008). The Battle at Ngok Tavak: A Bloody Defeat in South Vietnam, 1968. Sydney: Allen & Unwin. Nguồn sách 978741750645;
- Gropman, Alan Gropman (1985). Airpower and Airlift Evacuation of Kham Duc. Washington D.C: Office of Air History. Nguồn sách 012799307.

NGUYỄN TƯỜNG VÂN
(Phó Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Phước Sơn)