Nhớ mùa xuân Quý Sửu - 1973

NGUYỄN TAM MỸ |

Mùa xuân Quý Tỵ - 2013 đang đến gần khiến anh Hai tôi càng nhớ về mùa xuân Quý Sửu - 1973. Bởi cách đây vừa tròn 40 năm, là thời điểm Hiệp định Paris có hiệu lực thi hành ở miền Nam. Chiến trường im tiếng súng. Người của hai bên chiến tuyến nhìn nhau thân thiện vì xét cho cùng, tất cả đều là con dân nước Việt...

Thị trấn Tân An (Hiệp Đức) - nơi ngày xưa là bãi hàng lộ thiên miền Bắc chi viện cho chiến trường khu 5.   Ảnh: N.T.MỸ
Thị trấn Tân An (Hiệp Đức) - nơi ngày xưa là bãi hàng lộ thiên miền Bắc chi viện cho chiến trường khu 5. Ảnh: N.T.MỸ

Mùa thu 1972. Anh Hai tôi - Thái Nguyên Văn, thoát ly đi kháng chiến. Lúc bấy giờ gia đình tôi sống trong vùng bị tạm chiếm của Mỹ-ngụy tại thôn Hữu Lâm, xã Phước Kỳ, quận Tiên Phước (nay là thôn Phái Đông, thị trấn Tiên Kỳ, huyện Tiên Phước). Dẫu vậy, gia đình tôi vẫn thường xuyên liên lạc thư từ với anh Hai tôi qua cô Ba Lùng - cơ sở cách mạng nằm vùng của Đội công tác Phước Kỳ. Đội Công tác Phước Kỳ không giữ chân anh Hai tôi “tham gia cách mạng tại địa phương” mà tạo điều kiện để được đi “bộ đội tỉnh”, phiên chế về Đại đội Vận tải của Tỉnh đội Quảng Nam với mật danh CT45. Anh Hai tôi nhớ lại: “Hồi đó, đơn vị CT45 đóng quân ở khu vực bến đò Tam Cấp thuộc địa phận Thăng Phước, huyện Quế Tiên (nay là xã Thăng Phước, huyện Hiệp Đức).

Lúc này, cục diện chiến trường khu 5 nói chung, Quảng Nam nói riêng, đã có sự thay đổi với nhiều thuận lợi cho ta. Là đại đội vận tải nên đơn vị CT45 đảm trách hai nhiệm vụ quan trọng: tải hàng hóa, vũ khí và tải thương từ tiền tuyến về hậu phương. Hàng hóa gồm lương thực thực phẩm, thuốc men nhận từ “cửa khẩu Phú Thọ” (Quế Sơn) cõng về tập kết tại Phước Hà (Tiên Phước). Vũ khí, đạn dược được cấp trên chi viện cho Tỉnh đội Quảng Nam để ở làng Hồi (Nam Giang). Đơn vị CT45 băng rừng vượt suối lên đấy vận chuyển về cất giấu ở “tổng kho” tại Thăng Phước. Các Tiểu đoàn D70, D72, D74 và D10 đến hai địa điểm trên “nhận hàng”. Lúc bấy giờ quân Mỹ và quân chư hầu đã rút khỏi chiến trường khu 5, nhưng quân ngụy lại được tăng cường đông hơn. Sau khi căn cứ Cấm Dơi (Quế Sơn) bị tiêu diệt, bọn chúng dồn sức củng cố xây dựng khu căn cứ quân sự với quy mô lớn tại Thượng Đức (Đại Lộc). Đây là “cánh cửa thép” bảo vệ TP.Đà Nẵng ở mạn tây bắc. Tại quận lỵ Tiên Phước, ngoài Tiểu đoàn Biệt động quân 77, bọn chúng còn tăng cường Liên đoàn Địa phương quân 916 nhằm án ngữ mặt trận miền tây đất Quảng. Hằng ngày, bọn chúng cho các loại máy bay trinh sát L19, OV10... quần lượn, do thám, nắm tình hình, thấy nơi nào tình nghi có cộng quân trú ẩn là gọi pháo bắn như giã gạo chày ba. Và đơn vị CT45 của anh Hai tôi không ít lần bị bọn L19, OV10 “chỉ điểm” khiến phải “ăn đạn pháo” từ các chi khu quân sự Tiên Phước, Quế Sơn, Thăng Bình nã tới.

Cuối năm 1972. Hà Nội làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Đế quốc Mỹ bị thua đau, phải xuống nước, ngồi vào bàn đàm phán Hội nghị Paris.

Trước khi Hội nghị Paris - 1973 được ký kết, việc lấn đất, giành dân, cắm cờ “xác định lãnh thổ quốc gia” được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hô hào thực hiện ở khắp các vùng miền giáp ranh giữa ta và địch. Tại Quảng Nam, khu vực Tam Phước (Phú Ninh) là nơi tiếp giáp với vùng giải phóng Sơn - Cẩm - Hà. Quân ngụy đóng chốt ở Rừng Nhưng, Núi Vũ mưu toan mở rộng địa bàn “lãnh thổ quốc gia” ra vùng giải phóng của ta. Không thể để cho quân ngụy làm càn, Tiểu đoàn 70 được Tỉnh đội Quảng Nam giao nhiệm vụ xóa sổ hai điểm chốt Rừng Nhưng, Núi Vũ trước khi Hiệp định Paris có hiệu lực thi hành. Trận đánh cuối cùng này, đơn vị CT45 của anh Hai tôi cũng được lệnh tham gia với nhiệm vụ tải đạn vào và tải thương ra. Anh Hai tôi bảo: “Chiều tối ngày 26.1.1973, Tiểu đoàn 70 đã vào vị trí tập kết, Đại đội vận tải CT45 cũng đã ém quân tại xóm nhỏ bên sườn núi, nơi có Nhà lưu niệm cụ Phan Châu Trinh. Hình như bọn địch cũng lờ mờ nhận ra ý đồ của ta nên huy động các loại pháo từ sân bay Kỳ Nghĩa, căn cứ Tuần Dưỡng... bắn cấp tập quanh khu vực Rừng Nhưng, Núi Vũ và cả khu vực giáp ranh giữa Tam Phước với Sơn - Cẩm - Hà. Bọn chúng bắn không tiếc đạn. Pháo nổ ùng oàng từ khi trời chập choạng tối cho tới 10 giờ đêm. Sau đó, bọn chúng chuyển qua bắn cầm canh.

Trận đánh xóa sổ hai điểm chốt Rừng Nhưng, Núi Vũ vẫn được thực hiện. Khoảng 3 giờ sáng tiếng pháo bắn cầm canh không còn. Và đó cũng là lúc Tiểu đoàn 70 bất ngờ nổ súng tiêu diệt 2 đồn bót ở khu vực giáp ranh. Hai bên đấu súng dữ dội. Đạn lửa bay đỏ trời. Sau gần nửa giờ giao tranh quyết liệt, quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Quân ngụy chống cự không nổi vội tháo chạy về hướng Tam An, Tam Đàn. Tiểu đoàn 70 có 7 chiến sĩ bị thương, 1 chiến sĩ hy sinh. Đơn vị CT45 của anh Hai tôi nhanh chóng tải thương về Bệnh viện CK42 đóng tại Phước Hà. Và sau đó quay lại trận địa thu dọn chiến lợi phẩm chuyển về hậu cứ. Lúc đó khoảng 6 giờ sáng ngày 27.1.1973. Lệnh ngừng bắn theo Hiệp định Paris đã có hiệu lực thực thi. Quân ngụy cho xe tăng M113 gầm rú chạy thẳng lên hai điểm chốt Rừng Nhưng, Núi Vũ. Do không được lệnh kháng cự, bộ đội ta buộc phải rời khỏi trận địa. Quân ngụy nhìn thấy bộ đội ta rút quân chỉ đứng nhìn theo không bắn. Viên chỉ huy trèo lên tháp pháo xe tăng bắt loa tay nói lớn: “Đêm qua là trận đánh cuối cùng. Sáng nay là ngày hòa bình đầu tiên đánh dấu sự kết thúc của cuộc chiến tranh dài dặc. Đất của bên nào bên ấy giữ. Chúng ta không xâm phạm của nhau”.

(Còn nữa)

NGUYỄN TAM MỸ