Những đứa con của biển (tiếp theo kỳ trước)

Truyện ký của PHẠM THÔNG |

Các con ra đi đột ngột thế này, làm sao chuẩn bị hành trang cho kịp. Trước đó, lớp đàn anh đàn chị chúng nó ra đi ở lứa tuổi mười tám, đôi mươi đẹp như mụt măng đang lớn, đến nay mới tám tháng đã có sáu bảy giấy báo tử gửi về làng. Nghĩ tới đó, bà Thẩm bật khóc.

Thằng Cát tưởng bà Thẩm nghĩ không chuẩn bị được chi cho hai đứa con ra đi nên khóc, hắn chạy vào buồng xách luôn hai cái ba lô đã chuẩn bị sẵn võng, dép su, quần áo bà ba và một ít vật dụng cần thiết khác, có cả hai lon ghi-gô lương khô. Các thứ đó do hắn đan lưới mướn cho chú Năm Tường, dành dụm mấy tháng nay để mua sắm. Hắn đặt trước mặt mẹ rồi thưa:

- Bọn con đã chuẩn bị hết cả đây rồi mẹ. Cho hai chị em con đi đi mẹ.

Bà Thẩm mới ngả người ra rằng, tụi này đã quá quyết tâm, khó bề mà giữ chúng nó ở nhà được nữa rồi. Bà đồng ý nhưng vẫn còn ngần ngừ:

- Thôi thì… mẹ... chịu cho đi.

Bà Thẩm yên lặng sang mấy nhà hàng xóm năn nỉ để lại hai con cá ngừ chù đem về cắt khúc kho, xúc mấy lon nếp vo nấu xôi cho hai đứa ăn lên đường.

Thằng Cát sực nhớ cái túi vải đựng thuốc tây, bọc ni lon nhét vào chỗ hở giữa hai miếng ván lót trần hầm trú ẩn. Hắn đã học qua lớp cứu thương nên rành các loại thuốc cơ bản dùng chữa một số bệnh thông thường. Nhất là bệnh sốt rét, nghe nói ở núi sốt dữ dội lắm. Hắn chuẩn bị khá đầy đủ cho cuộc dấn thân này.

Nhanh như sóc hắn nhảy xuống hầm, thò tay qua khe hở giữa hai tấm phản móc cái túi thuốc. Loạng quạng thế nào cái túi thuốc lọt sâu vào trong mất. Thò tay không thấy, không có cách nào khác, nó chạy qua nhà ông ngoại lấy cái cuốc về đào tung ụ cát to bự vun trên trần hầm. Không biết sức đâu ra mà chỉ mấy phút hắn đã bươi tung đống đất, lấy được túi thuốc đem vào phân làm hai, một cho chị Liễu và một cho nó đem theo phòng bệnh.

Người ngợm cát dính đầy, thằng Cát lôi chị Liễu chạy ra biển ùm, hụp tắm. Trời tháng Tư âm lịch, biển thật yên ả, nước trong xanh. Nửa buổi sáng chưa có gió nồm lên mạnh, sóng vỗ lăn tăn, nước lành lạnh, biển vắng. Độ tháng hai tháng ba, giờ chừ trên bãi Vạn này người đông vui lắm. Vì đó là mùa lưới quác - một loại hình đánh bắt sát bờ. Người cả làng đứng xếp hàng trên bãi kéo lưới vào bờ. Thằng Cát sinh ra ở biển, lớn lên theo con nước thủy triều bãi ngang, theo những mùa lưới quác rộn ràng. Quê nó nhỏ xíu so với thế gian này, bàn chân của nó cũng nhỏ xíu, chỉ quanh quẩn ở làng. Thế nhưng cái chi hắn cũng cho làng mình là nhất. Có lẽ vì thế, thằng Cát rất yêu quê, yêu biển quê mình. Nó lôi chị Liễu ra biển là để được biển ôm chị em nó vào lòng. Với nó đây là thời khắc vô cùng quan trọng. Hôm ấy đúng vào ngày 1 tháng 5 năm 1965. Hắn biết, ra đi may ít rủi nhiều.

Thằng Cát đưa tầm mắt quan sát biển trước lúc dấn thấn đến những phương trời xa lạ. Hai chị em nó chỉ từng hòn đảo xa xa nói với nhau. Phía đông bắc là Cù Lao Chàm. Con Liễu chỉ biết chung chung về cái hòn đảo này. Thằng Cát thì rất rành: đâu là hòn Tai, hòn Khô, hòn Nờm... Hắn còn biết ở đó có dân ở. Rồi hắn chỉ hướng chính đông, vuông góc với bờ biển quê nó, giải thích thiệt là kỹ càng:

- Đó là hòn Ông, nước ở đó sâu hơn 30 sải tay. Chị nè, ghe đánh cá của quê mình đi đến đó là xa nhất nên gọi chớn nước ngang với hòn Ông là Bìa. Nghe nói ở trong Quảng Ngãi, dân biển ở Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) làm nghề mành chuồn đi ghe to như ghe bầu, họ ra tới đảo Hoàng Sa. Đảo đó cũng ở ngay bờ biển mình thẳng ra, nhưng xa quá không thấy được. Nó còn xa hơn cái viền chân trời kia đó chị. Học địa lý lớp nhất thầy có nói đến đảo này, chị nhớ không. Ông ngoại, bà ngoại kể rằng: Năm nào đó xa lắc, trước năm 1945 nữa kia, cũng mùa tháng Ba tháng Tư ni, đột nhiên trời nổi bão, người Quảng Ngãi đi mành chuồn chìm ghe chết nhiều vô kể. Xác của ngư dân xấu số đợt đó dạt vào tận cửa Lở, cửa An Hòa, là nơi có núi xa lờ lờ kia. Người lớn ở quê mình lâu nay chỉ đi đánh cá tới cái hòn Ông đó thôi. Mà em nghe nói người quê mình rất ít khi cập ghe vào hòn Ông. Họ nói trên đó thiêng lắm. Hắn tiếp tục chỉ về phía đông nam. Đó là Bàn Than. Cái núi bằng bằng ấy không phải là đảo mà dính với đất liền đấy chị Ba, nó nằm ở xã Kỳ Hòa. Nơi mà em nói người đi mành chuồn chết tấp vô đó. Tháng Giêng người biển quê mình thường vào Bàn Than khai thác đá hòn. Mỗi hòn nặng hai ba người khiêng, trục lên ghe chở về làm chà...

Con Liễu nói mi nhỏ hơn tau răng biết nhiều thế. Thằng Cát cười:

- Dù sao tui cũng là đàn ông biển. Đàn ông biển mà không biết biển thì biết chi. Rồi nó quay về phía núi nói, còn đây nè: Đàn ông biển phải biết núi, biết sao trời mới lấy đích chạy ghe được. Ông ngoại kể: Cái núi cao ở phía tây nam kia là núi Chúa. Từ núi Chúa chạy ra phía bắc một tí là Răng Cưa, nó giống như ba bốn cái răng cưa kia kìa. Ra tí nữa là hòn Đụn, Chóp Vung, bỏ qua dãy núi cao mờ mờ thì đến núi Trà Kiệu. (Ở biển vùng Tam Kỳ này gọi Hòn Tàu là núi Trà Kiệu). Phía chính bắc xa mờ là núi Sơn Chà lồi luôn ra ngoài biển. Núi gần sát mình thì thấp, ra biển khơi, ở tầm xa quá thì nó điệp vào dưới chân những núi cao ở trên dãy Trường Sơn không nhìn rõ được, không thể lấy làm đích chạy ghe nên dân biển mình không cần để ý đến. Họ cũng chẳng đặt tên cho nó làm chi. Em chỉ biết tên một cái núi gần có hình như đầu con cọp kia là Dương Ba Đầu. Nghe mẹ nói nó ở chỗ Phước long, Eo Gió đây thôi. Người biển mình đi lên tới đó mua lá thị gánh về nhuộm lưới, người trên đó cũng gánh tranh xuống tới dưới mình bán đó chị.

Con Liễu ít biết về địa lý nhưng lại tỏ ra già dặn:

- Mày biết sắp đến chị em mình sẽ đi đến đâu không? Mình sẽ đi đến những cái núi rất xa đó. Mình còn phải vượt qua nhưng dãy núi đó nữa, mi có dám không?

Thằng Cát giục:

- Thôi mình về, sửa soạn lên đường. Vượt hay không vượt là chuyện còn dài lắm. Khổ mấy em cũng quyết tâm. Đi mà quay về thì dị lắm. Chị chịu được là em chịu được. Cha, chú, cậu, cả làng mình đi hết rồi, họ chịu được thì mình cũng chịu được. Vừa đi vừa lớn chứ mình có nhỏ miết ri đâu mà sợ.

Hai đứa lên bờ, nhìn biển một cấp lâu rồi ù chạy về nhà.

(Còn nữa)

Truyện ký của PHẠM THÔNG