Làng Rớ không chịu rời sông

;
Thứ Ba, 23/05/2006, 08:41 [GMT+7]

Vì kế mưu sinh

Tự bao đời nay, hàng nghìn  hộ ngư dân ở Tam Hải, Tam Quang, Tam Giang... huyện  Núi Thành “sinh nghề tử nghiệp” trên sông Trường Giang. Và, rớ là một  nghề truyền thống. Việc đánh bắt cá, tôm... bằng rớ là “cần câu cơm” chủ yếu của nhiều cư dân vùng sông nước. Vậy nên, khi  dự án nạo vét luồng lạch cảng Kỳ Hà vừa “chuyển bánh”, đã làm xáo trộn đời sống của bao người.

Nắng chiều ngả màu. Con đò tròng trành đưa tôi và người lái đò ra giữa dòng  Trường Giang. Anh Đông, chủ ghe ở thôn 2, tiếc nuối : “Với con nước này, mọi hôm thì có cả trăm ghe ùa nhau ra thả rớ. Mấy ngày nay, ai nấy cũng đều rụng rời tay chân vì sắp phải xa nghề. Con tôm, con cá nó khôn lắm chú ơi, tìm những nơi nước sâu và luồng lạch để sinh sống. Nếu thả rớ gần bờ, khó mà bắt được con tép nào”. Nhiều ngư dân đã bức xúc vì cảnh các tàu nạo vét luồng lạch hoạt động gây khó khăn cho việc đánh bắt, sự việc căng thẳng đến mức chính quyền sở tại phải can thiệp với chủ đầu tư : đơn vị thi công cần “đứng bánh” một thời gian, chờ... giải quyết.

Công bằng mà nói, dự án ra đời là lẽ đương nhiên vì sự phát triển chung. Và bà con phải ra đi cũng là chuyện đương nhiên. Mặt khác,  Luật Giao thông đường thủy cũng đã quy định rạch ròi : Cấm khai thác, đánh bắt thủy sản trong vùng luồng lạch của cảng.  Về lý là thế, nhưng còn tình? Ông Trần Thành (thôn 3, Tam Hải) phân trần : “Năm bảy đời nay sống bằng nghề sông nước, no đói cũng nhờ bốn cái miệng rớ này. Không phải là gia đình tui chống chủ trương, mà do cực chẳng đã. Chú thử hình dung xem nhận dăm bảy triệu đồng thì giải quyết được chuyện gì. Ăn không ngồi  rồi đến hồi núi cũng lở...”. Theo thống kê, có không dưới 500 hộ chuyên sống bằng nghề rớ nằm trong vùng phải dời đi. Tuy nhiên, khi triển khai dự án  nạo vét đoạn luồng từ cảng Kỳ Hà đến cảng Khu công nghiệp Tam Hiệp, chủ đầu tư là Công ty Đầu tư và phát triển Kỳ Hà - Chu Lai chỉ mới lập phương án áp giá bồi thường, hỗ trợ được 49 hộ (số hộ này có rớ nằm trong khu vực đang thi công) với khung giá : loại rớ quay : 5 triệu đồng; rớ đáy : 1,6 triệu đồng, các dụng cụ khác : 500 nghìn đồng. Ngoài ra, còn hỗ trợ thêm cho mỗi hộ 3 triệu đồng. Ông Trần Đình Ngọc (Tam Hải) bức xúc: “Không biết Nhà nước mình dựa vào đâu mà đưa ra mức giá bèo như thế.  Riêng giá các phương tiện đánh bắt đã vượt hơn số tiền bồi thường như trên rồi, đó là chưa kể đây là nguồn thu nhập chính của ngư dân nghèo. Muốn lên bờ kiếm nghề khác sinh nhai thử hỏi số tiền trên thấm tháp vào đâu ?”.

Kế mưu sinh nào khác ngoài… sông ?

Đó là câu hỏi   của hầu hết các ngư dân làng rớ khi bày tỏ nỗi bức xúc của mình với chúng tôi. Sự ra đi của một làng nghề đồng nghĩa với cái “cần câu cơm” hằng ngày của ngư dân gắn đời với nghiệp  sông nước bị đánh mất. Theo Trưởng thôn 6, xã Tam Hải Huỳnh Tình  : “Lẽ ra Nhà nước nên dành cho họ một cơ chế hỗ trợ đặc biệt, đa phần những gia đình sống bằng nghề này là những người không có trình độ văn hóa đủ để làm nghề khác. Quanh năm suốt tháng chỉ quen với mỗi môi trường… nước”. Còn ông Trần Văn Hưng, Trưởng phòng Kinh tế huyện Núi Thành, nói : “Nếu áp giá bồi thường theo phương án hiện nay thì quả không công bằng chút nào. Vì rằng, đây là một nghề “ăn đời ở kiếp” với ngư dân dọc sông Trường Giang. Mặc dầu ngư dân không sở hữu thủy phận nào nhưng cần thiết phải giải quyết đời sống cho họ một cách ổn thỏa. Bất cập của chúng ta là chưa tìm ra bài toán chuyển đổi ngành nghề cho dân làng rớ…”. Khi lập tờ trình gửi lên cơ quan chức năng vào ngày 20-4-2006, Chủ tịch UBND xã Tam Hải Nguyễn Đức Tục  đã chi tiết  từng khoản cần bồi thường, cụ thể như ngoài việc bồi thường thiệt hại về tư liệu  sản xuất, còn phải tính tới nguồn thu nhập hàng năm của ngư dân, kinh phí hỗ trợ chuyển  đổi nghề… Đem bức xúc của ngư dân trao đổi với ông Cao Ngọc Tích, Phó Giám đốc Công ty Đầu tư - phát triển Kỳ Hà - Chu Lai,  ông cho biết : “Chúng tôi áp giá như vậy là phù hợp với tình hình thực tế, đúng với Quyết định 31 của UBND tỉnh về đền bù, hỗ trợ, tái định cư”.  Và khi được hỏi về chính sách hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề, ông Cao Ngọc Tích cũng chỉ lắc đầu : “Không thể đặt trách nhiệm này lên chúng tôi được; chọn lựa nghề nào phải do dân tự lo, bảo họ đi đâu, làm gì tôi làm sao biết được ?”. 

Rõ ràng, trong điều kiện hiện nay, ngân sách Nhà nước   hay chủ đầu tư cũng khó có thể đáp ứng trọn vẹn đòi hỏi của người dân trong công tác bồi thường thiệt hại ở dự án nạo vét luồng tàu vào cảng Tam Hiệp nói riêng và tất cả các dự án khác trên địa bàn tỉnh nói chung. Tuy nhiên, quả thật, đối với những người dân cả đời sống dựa vào  sông nước, thì việc chuyển đổi nghề nghiệp quả là điều rất khó. Tất nhiên, người dân cũng phải thông cảm một phần với khó khăn chung của Nhà nước. Chỉ có vậy, khi ấy dự án nạo vét luồng tàu vào  cảng Tam Hiệp - một dự án mang tầm chiến lược đối với sự phát triển của Khu kinh tế mở Chu Lai mới hy vọng được triển khai  suôn sẻ.

Hữu Phúc

.
.
.
.
.