“Ươm những mầm xanh” trên rẻo cao!

;
Thứ Sáu, 19/05/2006, 10:38 [GMT+7]

Mở đầu câu chuyện về cái chữ trên vùng cao này, Trưởng phòng giáo dục huyện Nam Trà My Nguyễn Trường Sinh khẳng định : Tuy sự nghiệp “trồng người” ở đây vẫn còn gian nan lắm nhưng từ khi lập huyện (năm 2003) con số về trường lớp không ngừng tăng lên vùn vụt, thỏa lòng những người âm thầm gieo cái chữ ở những nóc xa xôi. Bắt đầu là từ bậc học mầm non, trên địa bàn hiện đã có đến 57 lớp với tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp đạt hơn 90% (năm ngoái chỉ có 22 lớp). Khác với vẻ im lìm của tiếng trẻ trong các phòng học tranh tre nứa lá trước đây. Vỏn vẹn mới hai năm học, chưa có thể nói được những thành quả lớn về giáo dục đối với một “huyện trẻ” như Nam Trà My bởi trước mắt phải dành sự ổn định cho nhiều mặt khác. Tuy thế, việc tập trung ươm những mầm xanh được khẳng định là hướng đi chiến lược để tạo ra một bầu không khí học tập say sưa trên vùng đất vẫn còn vương vất cái nghèo và lạc hậu này.

 Năm học 2005 - 2006, toàn huyện đã có 237 lớp ở bậc tiểu học (tăng 6 lớp so với học kỳ I năm học trước); 38 lớp học Bổ túc văn hoá THCS được mở trong năm học vừa qua đã kịp thời duy trì cái chữ và làm cơ sở để hoàn thành kế hoạch phổ cập THCS ở địa phương trong tương lai. Theo ông Sinh, cái “được” tạo nhiều kỳ vọng cho ngành giáo dục địa phương phải kể đến là sự “hùng hậu” của đội ngũ giáo viên trên toàn huyện. Hiện tại, trên địa bàn đã có 478 giáo viên ở ba bậc học, (cơ bản đã đáp ứng đủ nguồn nhân lực). Đặc biệt, trước đây không có một biên chế ở bậc học mầm non thì nay đã có 25 giáo viên biên chế. Tại những nóc xa xôi giáp với tỉnh KonTum và các xã Trà Leng, Trà Dơn hằng ngày vẫn có những con người âm thầm gieo chữ. Gặp cô giáo Hồ Thu đang chuẩn bị một ít lương thực để trở lại nóc Trà Leng, tôi vồn vã hỏi về quãng đường thì cô cho biết, hơn 40 cây số đi bộ mới tới được đỉnh Tà Xuyên (nơi có lớp học mà cô đứng điểm). Cô nói : “Xa, nên lâu lắm mới về huyện. Mình quen rồi, ở với bà con như ở nhà mình, đôi khi còn giúp họ bứt lúa trên rẫy”. Tại những nơi heo hút, nhiều người còn báo tin vui, đã có vài bậc phụ huynh cùng đi học với con cái mình.

Từ việc tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng nên Nam Trà My có thêm thuận lợi để phát triển giáo dục. Đặc biệt, trong thời gian gần đây địa phương đã đưa vào sử dụng Trường Phổ thông dân tộc nội trú, (công trình có vốn đầu tư khoảng 7 tỷ đồng); thành lập Trung tâm giáo dục thường xuyên của huyện đã tạo thêm nhiều cơ hội để các em có hoàn cảnh khó khăn được đến lớp. Tuy thế, để hoàn thành kế hoạch phổ cập THCS vào năm 2007. ông Sinh cho hay vẫn còn nhiều việc phải làm và điều quan trọng nhất là làm sao để kéo học sinh đủ độ tuổi trở lại lớp và duy trì các lớp THCS dưới mọi hình thức. Nguyên nhân cản trở mục đích phổ cập THCS của hầu hết các huyện miền núi là tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng. Tỷ lệ này ở Nam Trà My hiện nay là không cao (khoảng 0,4%) nhưng điều quan ngại trước mắt là với địa hình, phức tạp của địa phương, việc duy trì số trẻ đến lớp quả là điều không dễ. Thậm chí vài nóc, ngành giáo dục địa phương còn đối mặt với nguy cơ “lạnh nhạt” với cái chữ của các bậc phụ huynh. Ông Sinh giải thích, đó là do những khó khăn của đời sống kinh tế vùng cao, mà Nam Trà My là rõ nhất. Chuyện “no cái bụng” đã bó hẹp cái ước muốn đến trường của các em. Thêm nữa, cơ sở vật chất ở một số nóc vẫn còn sơ sài lắm, vẫn còn 114 phòng học tranh tre nứa lá dựng tạm để duy trì cái chữ cho các em.

Có thể nói, đến nay, ngoài những khó khăn chung về điều kiện vật chất như bao huyện miền núi khác, ngành giáo dục Nam Trà My bước đầu đã gặt hái được những thành quả đáng mừng. Nổi bật hơn cả là việc chăm lo rất tốt cho bậc học mầm non. Nói như cách của ông Sinh : “Công cuộc trồng người ở Nam Trà My bắt đầu bằng việc ươm những “mầm xanh” trên rẻo cao”.

Thanh Minh

.
.
.
.
.