Bèo bọt nghề đan lát xóm Bàu

;
Thứ Hai, 26/06/2006, 08:32 [GMT+7]

“Cái nghề ni thu nhập bèo bọt lắm chú ơi, mỗi ngày làm quần quật suốt từ sáng đến chín mười giờ tối, giỏi lắm kiếm không quá 20 nghìn đồng. Còn bình quân chỉ mười, mười lăm nghìn. Thử hỏi chú, không bèo bọt răng được?”. Chị Lê Thị Tuyến, năm nay đã 55 tuổi, người biết đan đát từ hồi mười ba, mười bốn tuổi, nhỏ nhẹ than vãn với tôi. Nhiều thợ đan đát khác ở xóm Bàu, nay thuộc thôn Vân Quật, xã Duy Thành (Duy Xuyên) cũng có ý nghĩ tương tự. Đan đát là nghề truyền thống của cư dân xóm Bàu, không ai nhớ nghề này xuất hiện từ bao giờ, chỉ biết nó có từ rất lâu. Ông Huỳnh Thông, sinh năm 1927, cho biết đời ông nội của ông đã hành nghề đan đát. Còn trước đời ông nội, cư dân xóm Bàu đã kiếm ăn bằng nghề này hay chưa thì…chịu. Như vậy, nghề đan đát xóm Bàu ra đời muộn nhất cũng vào nửa cuối thế kỷ XIX. Thời kỳ ấy, số dân xóm Bàu theo ước đoán độ trên mười gia đình. Bước sang đầu thế kỷ XX,  đã tăng gấp đôi. Còn hiện nay, theo thống kê, có tất cả năm mươi gia đình. “Nếu thanh niên nam nữ lớn lên mà đều lập gia đình và ở đây thì không chừng gần cả trăm gia đình chứ chẳng chơi. Nhưng, nhiều đứa cứ đi làm ăn xa, rồi lập nghiệp luôn, không về nữa…” - ông Huỳnh Bằng, sinh năm 1953, giải thích.

Ở xóm Bàu, theo truyền thống, hễ có bao nhiêu gia đình thì có bấy nhiêu người đan đát. Cứ tính mỗi gia đình có hai lao động chính thì hiện nay xóm Bàu có cả trăm lao động theo nghề đan. Đó là chưa kể số trẻ em còn đi học nhân thời gian rảnh rỗi phụ giúp gia đình. Thường thì cuối năm trước và bước sang đầu năm mới, người dân xóm Bàu chuyên đi mua tre. Họ tỏa đi mua khắp nơi, từ Hà Nhuận, Hà Trước đến An Phú, Câu Lâu… Xưa, người ta mua xong, cứ ghé vai vác bộ. Nay thì đã có xe bò, đỡ cực nhọc hơn. Tre đem về, bỏ hết xuống bàu nước để ngâm. Khi nào cần, vớt lên mà làm.

Hồi trước năm 1975, sản phẩm đan đát của cư dân xóm Bàu khá phong phú. Có thể kể đến cả chục loại, đủ các kích cỡ. Nào là các loại rổ, nong, rồi nia, thúng mủng, gàu tát nước, nôi, rế, trẹt, dừng, sàng… Trong đó, chỉ có một số loại đòi hỏi tay nghề thực sự điêu luyện như gàu dai, gàu sòng. Khó đan nên trong làng chỉ một số người có thể đan được, những sản phẩm còn lại thì kỹ thuật đơn giản hơn. Theo sự phân công lao động, trong mỗi gia đình, đàn ông thường lãnh những phần việc hợp với sức mình như chẻ tre, vót nan… Riêng phụ nữ chủ yếu ngồi và đan. Thế nhưng, khi cần, ngay cả phụ nữ nhiều người rất thạo phần việc của giới đàn ông, và họ làm cũng không kém gì cánh mày râu.

Ngày xưa, làm ra sản phẩm dễ nhưng để bán được thì… cực khó. Thường thì ai làm người nấy phải tự đi bán. Ông Huỳnh Thông nhớ lại :“Thời trai trẻ, tui gánh sản phẩm đi bán khắp nơi, từ Điện Bàn, Thăng Bình đến Hiệp Đức...”.  Do bán ở xa nên mỗi chuyến đi của người dân xóm Bàu thường dài ngày. Nếu bán nhanh, khoảng ba ngày về lại. Còn không, phải bốn, năm ngày. Lâu hơn, có khi chẳng đem về nhà được cái gì. Bởi vì tiền bán sản phẩm phải mua đồ ăn dọc đường có lúc hết cả, đành về tay không.

Giờ đây nghề đan đát xóm Bàu khác xưa. Đầu tiên là loại hình sản phẩm, từ hơn mười chủng loại, đến khoảng giữa thập kỷ 80 rút xuống chỉ còn khoảng hai, ba loại chính là rổ, mủng giê lúa, kế đến là trẹt, sàng. Nong, nia, gàu tát nước, dừng, nôi… lần lượt biến mất. Sản phẩm tuy bị thu hẹp nhưng người thợ trong xóm không còn chịu cảnh cứ lâu lâu phải gánh sản phẩm đi bán các nơi nữa. Các loại rổ, mủng, sàng… làm ra bao nhiêu đã có đội ngũ những người đi buôn mua hết. Mua thường xuyên nhất trong vài chục năm trở lại đây có hai chị Nguyễn Thị Thôi và Nguyễn Thị Chỉ. Bên cạnh đó, cũng có hàng chục chị em khác mua sản phẩm để bán lại kiếm lời khi rảnh rỗi.

Trong cả trăm lao động đang hành nghề đan đát ở xóm Bàu, phần đông chỉ làm trong lúc nông nhàn. Thu nhập của họ cũng không cao, bình quân khoảng trên 15.000 đồng một ngày công. Như hai vợ chồng anh Huỳnh Bằng, mỗi ngày vừa chẻ tre, vót nan vừa đan khoảng chục rổ tre, theo thời giá, anh bán được năm chục nghìn, sau khi trừ tiền nguyên vật liệu, số tiền gọi là tiền công cho hai vợ chồng  còn lại cũng chỉ xấp xỉ bốn mươi nghìn. Tuổi quá thất thập cổ lai hi, bà Trương Thị Thông, đang cặm cụi ngồi đan những chiếc rổ tre, phía trước ngôi nhà tuềnh toàng. Đôi tay bà thoăn thoắt cứ như được “lập trình” sẵn. Bà Thông kể : “Mỗi ngày vợ chồng tui đan chừng chục rổ là nhiều rồi. Già như tui, làm một chặp phải nghỉ, ngồi hoài chịu răng thấu?”. Theo anh Võ Tấn Lựu, thôn trưởng thôn Vân Quật, người khá am hiểu làng nghề thì với loại rổ nhỏ này, trừ đi tiền vật liệu, hai vợ chồng bà Trương Thị Thông mỗi ngày chỉ kiếm được hơn hai mươi nghìn đồng. Một còn số quả thật quá…bèo bọt !

Phạm Hữu Đăng Đạt

.
.
.
.
.